Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2015

Thứ Ba Tuần IV Phục Sinh Ga 10,22-30.



Lời Chúa: Tôi và Cha tôi là một.
Ha-lê-lui-a. Chúa nói: “ Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng, và chúng theo tôi”. Ha-lê-lui-a.
Chúa ghi vào sổ bộ các dân:
“ Kẻ này người nọ đều sinh ra tại đó.”
Và ai nấy múa nhảy ca:
“ Xion hỡi, mọi nguồn gốc của tôi ở nơi thành.”

Muôn nước hỡi, nào ca ngợi Chúa.


Ngày 28/04 – Thánh Phêrô Chanel, Linh mục Tử đạo (1803-1841)
Là một linh mục trẻ làm hồi sinh một giáo xứ trong một quận “tồi tệ” bằng phương pháp đơn giản là tận tụy chăm sóc bệnh nhân. Muốn làm nhà truyền giáo nên lúc 28 tuổi, ngài gia nhập Dòng Đức Mẹ (Society of Mary), còn gọi là Bảy Thánh Lập Dòng Tôi Tớ Đức Mẹ (seven Marists). Vì vâng lời, ngài dạy học ở chủng viện 5 năm. Sau đó, ngài làm bề trên dòng, đi miền Tây Oceania và được bầu làm đại diện (vicariate). Đức giám mục theo các nhà truyền giáo, để Peter Chanel một tu sĩ khác ở lại đảo Futuna ở New Hebrides, hứa sẽ trở lại 6 tháng sau. Nhưng thời gian đó kéo dài đến 5 năm sau.
Trong khi đó, ngài phải “vật lộn” với việc trau dồi ngôn ngữ mới, khó sống với dân đánh cá voi, dân buôn bán và dân bản xứ. Dù thành công một chút, ngài vẫn trầm lặng, hiền dịu, kiên nhẫn và can đảm. Một số dân bản xứ được rửa tội, một ít người được hướng dẫn. Khi con trai của một thủ lĩnh (chieftain) xin vào đạo, thủ lĩnh càng khủng bố dữ dội. LM Chanel bị đánh đến chết, thi thể ngài bị cắt ra từng khúc. Sau 2 năm ngài qua đời, cả đảo Oceania theo Công giáo và ngày nay vẫn vậy. Thánh Peter Chanel là thánh tử đạo đầu tiên và là thánh bổn mạng của đảo này.

Ngày 27/04/1802-1856 Thánh Laurensô Nguyễn Văn Hưởng Linh mục Tử đạo.



* Niềm tin yêu cao quý
“Quá khóa đi ! Ta thương và giảm nhẹ án cho !”
Quá Khóa ? Làm sao cha Hưởng có thể Quá Khóa được ? Vì sợ hình phạt dành cho người phản bội đạo Chúa? – Vâng. Vì trách nhiệm của một vị đạo trưởng ?- Vâng. Nhưng không phải chỉ có thế. Quá khóa, đó là chối bỏ niềm tin cao quý nhất của người tín hữu, chối bỏ cả ý nghĩa cuộc đời mục tử của mình.
Quan án không hiểu được cha. Các người lính không thể hiểu cha. Những người đồng đạo cảm thông và kính mến cha. Nhưng có ai cùng cảnh ngộ với cha chăng ? Ngay từ ấu thơ đã phải chịu cảnh bất hạnh nhất của một con người :Mồ côi cha mẹ. Lâm vào cảnh lam lũ vất vả để kiếm sống, con người bất hạnh đó luôn luôn khát khao tình thương của người cha, sự âu yếm của người mẹ, một nỗi khát khao lớn lao không một tấm lòng trần gian nào có thể lấp đầy. Cuối cùng, người con mồ côi ấy đã khám phá ra Thiên Chúa chính là Người Cha yêu thương vô bờ bến, và đã dâng hiến trọn đời mình, trọn đời linh mục cho Tình Thương cao cả ấy.
Biết nói sao đây ? Cha Hưởng chỉ biết đơn sơ trả lời quan án :” Bẩm quan lớn, có bao giờ con cái dẫm đạp lên đều cha mẹ mình chăng?”
Thế là một lần nữa cha phải trả giá cho ý nghĩa cuộc đời linh mục, và lần này thì bằng một giá cao nhất là chính mạng sống của mình.
* Tuổi xanh gian khổ.
Cậu bé Laurenso Nguyễn Văn Hưởng sinh năm 1802, tại xã Tụy Hiền, xứ Kẻ Sải, tổng Trinh Tiết tại Hà Nội. Gia đình nghèo, mồ côi cha mẹ ngay từ nhỏ. Cậu Hưởng phải đi chăn trâu cho ông chú ngoại giáo tên là Thang. Thấy cậu hiền lành, ông rất quý mến và đối xử như con ruột. Tình thương của ông chú thật đáng quý, nhưng chẳng thể bù đắp được nỗi bất hạnh do thiếu tình yêu cao quý của cha mẹ ruột, bởi vì chỉ có tình yêu của cha mẹ mới thực sự bao la mà ca dao Việt Nam thường ví:
Công Cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Cậu Hưởng muốn dâng mình cho Chúa để tìm kiếm một tình thương trọn vẹn hơn, nên đến xin cha Duyệt, chánh xứ Sơn Miêng giúp đỡ. Sau ba năm được cha xứ nuôi dưỡng ăn học, cậu được gửi vào học tại chủng viện Vĩnh Trị, thụ giáo với cha chính địa phận Tây Đàng Ngoài.
Khi vua Minh Mạng ra lệnh cấm đạo nghiêm ngặt, chủng viện Vĩnh Trị phải giải tán. Cậu về quê làm thuốc viên bán quanh làng Độ Nhật, và cũng để thăm viếng giúp đỡ nhiều người. Nhân dịp này, ông chú khuyên cậu nên ở nhà lập gia đình. Ông còn hứa nhường lại gia sản cho cậu. Một quan Tổng có họ hàng với cậu cũng hứa giúp đỡ tận tình. Nhưng cậu Hưởng vẫn cương quyết theo lý tưởng tu trì. Ông chú tức giận đuổi cậu ra khỏi nhà, và cậu liền trở về chủng viện Vĩnh Trị.


* Tất cả vì danh Chúa
Mãn khóa học, cậu Hưởng được gia nhập bậc thầy giảng, đi giúp xứ Kim Sơn, xứ Bạch Bát,.Trong suốt tám năm trời, thầy Hưởng luôn làm việc tận tụy, sống giản dị, khiêm tốn và bác ái. Sau đó, Đức cha gọi thầy về học thêm thần học và truyền chức linh mục cho thầy. Cha Hưởng trở nên một linh mục nhiệt thành, làm phó xứ Giang Sơn hai năm, rồi sang xứ Lạc Thổ, Yên Lộc, Bạch Bát. Ở đâu cha cũng tỏ ra là vị linh mục siêng năng, nhiệt tâm giảng dạy tín hữu, thường xuyên viếng thăm những bệnh nhân.
Năm 1855, cha bị bắt trên đường đi thăm kẻ liệt. Khi ấy, cha đang ở trên thuyền thì mấy gia nhân của phó tổng Tùy với gậy gộc la ó rượt theo, cha liền bảo người lái đò chèo qua bờ bên kia sông rồi bỏ đi. Cha tự nguyện nộp mình, và không muốn người khác phải liên lụy.
Bị bắt, cha không coi đó là một tai họa, nhưng là thánh ý Chúa muốn cho mình thông phần vào cuộc tử nạn của Đức Ki-tô, và nhắn với cha già Chất cùng bổn đạo đừng chạy tiền chuộc.
Sau ba ngày bị giam ở huyện Yên Mô, cha được giải về tỉnh Ninh Bình. Quan tỉnh thấy cha có nét chân tu nên hứa :” Nếu ông đạp lên Thánh Giá, ta cho đến trụ trì ở chùa Non Nước”. Cha đáp :” Tôi không biết gì về Thần Phật, làm sao ở chùa được?”. Quan yêu cầu cha đọc kinh bên đạo, cha đọc Mười Điều Răn. Quan lại thắc mắc về tin đồn rằng :” Tại sao các ông khoét mắt người bệnh, và không thờ kính tổ tiên ?” Cha Hưởng bình tĩnh giải thích cho quan :” Xin quan đừng nghe những lời đồn đãi sai lạc, chúng tôi chỉ xức dầu trên mắt mũi, tai miệng và tay chân để xin Chúa tha các tội mà bệnh nhân đã dùng chúng để phạm tội. Còn với tổ tiên, chúng tôi hằng cầu nguyện bằng các việc lành, chỉ có điều chúng tôi không cúng quả, vì biết rằng cha mẹ chẳng thể trở về ăn uống thứ gì được nữa”.
Với các tín hữu đến thăm, cha an ủi họ:” Chúng con phải mừng cho cha, vì cha được chịu khổ vì chúa Giê-su”.
* Chính trực đến cùng.
Sau nhiều lần dụ dỗ không được, các quan Ninh Bình làm án xin vua cho xử trảm. Trước đó, vì các quan đã nhận mười nén bạc của giáo hữu, nên tìm cách giảm nhẹ án cho cha. Họ đề nghị cha khai mình chỉ là một tín hữu thôi, nhưng cha nhất định không chịu khai man che giấu chức vụ linh mục. Cha viết thư cho Đức cha Retord Liêu :
“Xin Đức cha đừng chạy tiền chuộc con làm chi, con sẵn lòng hy sinh để làm chứng đạo chúa Giê-su là đạo thật. Xin Đức cha cầu nguyện cho con được vững vàng cho đến cùng”.
Cuối cùng vị linh mục được mãn nguyện. Trước kia, cha đã cương quyết từ chối lời đề nghị của ông chú, bây giờ cha lại vui mừng đón nhận bản án tử hình. Cha hân hoan chờ đợi bản án như chờ đợi vòng tay Chúa Cha yêu dấu đang rộng mở đón chờ người con yêu. Đúng ngày thi hành bản án, cha Khoan vào ngục thăm, giải tội và trao Mình Thánh lần cuối cùng. Cha Hưởng vui vẻ ra pháp trường nằm trên võng giáo hữu đã thuê sẵn. Cha cầm sách nguyện kinh Thần vụ lần cuối….
Đầu cha rơi xuống, cha Laurenso Hưởng đã vượt qua cuộc đời trần thế để về sum họp với Cha trên trời ngày 27-04-1856. Các tín hữu đã an táng thi hài chứng nhân Chúa Ki-tô tại Vĩnh Trị.
Đức Thánh Cha Pi ô X suy tôn Chân Phước cho cha Laurenso Nguyễn Văn Hưởng ngày 02-05-1909. Vào ngày 19-06-1988 Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II suy tôn cha lên bậc Hiển thánh.

Thứ Hai Tuần IV Phục Sinh Ga 10,1-10.



Lời Chúa: Tôi là cửa cho chiên ra vào.
Ha-lê-lui-a. Chúa nói: “ Tôi chính là Mục Tử nhân lành, Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi”. Ha-lê-lui-a.
Con sẽ bước tới bàn thờ Thiên Chúa,
tới gặp Thiên Chúa, nguồn vui của lòng con.
Con gảy đàn dâng câu cảm tạ,
lạy Chúa là Thiên Chúa con thờ.

Linh hồn con khát khao Chúa Trời, là Chúa Trời hằng sống.

Ngày 27/04 – Thánh Louis Maria Montfort, Linh mục (1673-1716)
Cuộc đời thánh Louis dành để thúc đẩy lòng sùng kính Đức Mẹ.Totus tuus (hoàn toàn thuộc về Mẹ) là khẩu hiệu riêng của ngài. Chính ĐHY Karol Wojtyla (chân phước Gioan-Phaolô II) đã chọn khẩu hiệu này làm khẩu hiệu giám mục.
Ngài sinh tại làng Breton ở Montfort, gần Rennes (Pháp). Lớn lên, ngài biết nơi mình lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy nên ngài thay tên gia đình là Grignion. Sau khi được học với các linh mục dòng Tên (Jesuits) và Hội truyền giáo Xuân Bích (Sulpicians), ngài thụ phong linh mục năm 1700.
Sau đó ngài đi rao giảng khắp miền Tây Pháp. Những năm sống với người nghèo thúc giục ngài sống giản dị, đôi khi ngài gặp rắc rối với giáo quyền. Khi ngài giảng, hàng ngàn người đã lấy lại đức tin. Ngài khuyên nên thường xuyên rước lễ, rước lễ hàng ngày càng tốt (dù thời đó chưa có thói quen rước lễ như vậy). Ngài noi gương “xin vâng” của Đức Mẹ.
Thánh Louis thành lập Hội Truyền giáo Maria (Missionaries of the Company of Mary, dành cho linh mục và tu sĩ) và dòng Nữ tử Khôn ngoan (Daughters of Wisdom) chuyên chăm sóc bệnh nhân. Ngài viết cuốn True Devotion to the Blessed Virgin (Tận hiến cho Đức Mẹ), sách này trở thành cách giải nghĩa về lòng sùng kính Đức Maria. Ngài qua đời tại Saint-Laurent-sur-Sèvre, nơi đây có một nhà thờ dâng kính ngài. Ngài được phong thánh năm 1947.

Thứ Sáu, 24 tháng 4, 2015

Chúa Nhật IV Phục Sinh Chúa Chiên Lành Năm B



Lời Chúa: Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.
      Khi ấy, Đức Giê-su nói với người Do-thái rằng : “Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên. Người làm thuê, vì không phải là mục tử, và vì chiên không thuộc về anh, nên khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn, vì anh ta là kẻ làm thuê, và không thiết gì đến chiên. Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi, như Chúa Cha biết tôi, và tôi biết Chúa Cha, và tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.

     “Tôi còn có những chiên khác không thuộc ràn này. Tôi cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng tôi. Và sẽ chỉ có một đoàn chiên và một mục tử. Sở dĩ Chúa Cha yêu mến tôi, là vì tôi hy sinh mạng sống mình để rồi lấy lại. Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy. Đó là mệnh lệnh của Cha tôi mà tôi đã nhận được.”


SUY NIỆM & CẦU NGUYỆN
      Chúa Nhật IV Phục Sinh năm B hôm nay còn được gọi là Chúa Nhật Chúa Chiên Lành, chính Đức Kitô là Vị Mục Tử nhân lành đã hiến mạng sống mình vì đàn chiên. Ngài đến trong thế gian với sứ mệnh quy tụ tất cả đàn chiên về một mối, ngõ hầu chỉ có một Chủ chiên duy nhất và một đàn chiên duy nhất. Qua thánh Phêrô Tông Đồ, Chúa Giêsu Phục Sinh đã trao phó nhiệm vụ chăn dắt đàn chiên của Người cho Giáo Hội. Theo gương Chúa Kitô Mục Tử nhân lành, Giáo Hội đã không ngừng dấn thân trong việc chăm sóc đàn chiên. Vào mọi nơi mọi lúc và mọi thời đại, không thiếu những tấm gương của những vị mục tử nhân lành trong Giáo hội, đã cống hiến trọn vẹn cuộc đời của mình để sống chết vì đàn chiên.
     Và chúng ta phải biết Ngài là mục tử nhân lành đích thực. Ngài phân biệt rõ, mục tử đích thực khác với người chăn chiên thuê. Trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta,  luôn tồn tại những khuynh hướng muốn lôi kéo con người xa Thiên Chúa. Họ cho là vật chất quyết định tất cả, họ muốn thay thế Thiên Chúa bằng những phát minh của nền công nghệ hiện đại, họ đã lầm. Vật chất dồi dào, khoa học hiện đại, những điều đó rất cần thiết để cải thiện đời sống con người. Nhưng chọn chúng làm đích đến của cuộc đời sẽ là một ảo tưởng, và làm cho cuộc sống chúng ta trở nên trống rỗng. Hãy đến với Chúa để được Ngài biến đổi, để chúng ta biết phân biệt đâu là thật, đâu là giả, đâu là giá trị tạm thời, đâu là nguồn hạnh phúc vĩnh cửu, và chúng ta phải biết ý thức được trách nhiệm cao cả của mình, là Giáo hội luôn luôn kêu mời các bạn trẻ nam nữ đáp lại lời mời gọi của Vị Mục Tử nhân lành, biết quảng đại dấn thân trên con đường thánh hiến để phục vụ Giáo hội của Chúa Kitô và nhân loại. Vì vậy, Giáo hội dành riêng ngày Chúa Nhật thứ tư Phục Sinh hàng năm để cầu nguyện cho ơn Thiên Triệu nói chung và ơn gọi Linh Mục nói riêng.
     Lạy Chúa Giêsu, là Mục Tử nhân lành, xin hãy ban cho chúng con nhiều vị mục tử tốt lành theo gương Chúa Ki-tô. Xin giúp chúng con trở thành những mục tử tốt lành trong gia đình mình, trong khu phố mình cũng như trong toàn xã hội. Amen


Ngày 26/04 – Thánh Pedro de Betancur San Joseacute, Tu sĩ (1626-1667)
Trung Mỹ có vị thánh đầu tiên là Pedro de Betancur, từng làm việc và chết tại Guatemala. Ngài thường được gọi là “thánh Phanxicô của Mỹ châu”.
Pedro được phong chân phước năm 1980. Ngài được ĐGH Gioan-Phaolô II phong thánh ngày 30/7 tại thành phố Guatemala. Ngài được phong thánh vì “gương mẫu nổi bật” về lòng yêu thương Kitô giáo, Đức Gioan-Phaolô II nói rằng thánh Pedro đã “thực hiện lòng nhân từ một cách anh dũng với những người nhỏ bé nhất và nghèo khổ nhât”. Trước khoảng 500.000 người Guatemala tham dự lễ phong thánh, Đức Gioan-Phaolô II nói về những căn bệnh xã hội ngày nay đang hoành hành đất nước và cần có sự thay đổi.
Trong nghi thức phụng vụ kéo dài 3 giờ, ngài giảng: “Chúng ta hãy nghĩ về các trẻ em và thanh thiếu niên vô gia cư hoặc không được học hành, các phụ nữ cần nhiều nhu cầu, những người bị xã hội bỏ rơi, các nạn nhân của tội phạm có tổ chức là gái điếm hoặc ma túy, những người bệnh tật bị bỏ rơi và những người già sống cô đơn”.
Thánh Pedro rất muốn làm linh mục, nhưng Thiên Chúa có kế hoạch khác cho chàng thanh niên này vốn sinh trưởng trong một gia đình nghèo khó ở Tenerife, thuộc quần đảo Canary. Pedro đi chăn chiên đến lúc 24 tuổi, ngài đi đến TP Guatemala, hy vọng liên lạc với người thân ở đó. Lúc ngài đến Havana thì hết tiền. Ngài làm việc ở đó kiếm tiền rồi lại điGuatemala vào năm sau. Đến nơi, ngài quá nghèo đến nỗi phải xếp hàng nhận của bố thí của các tu sĩ dòng Phanxicô.
Không lâu sau, ngài ghi danh học ở trường dòng Tên để làm linh mục. Nhưng ngài cố gắng thế nào cũng không học nổi, ngài đành phải nghỉ học. Năm 1655, ngài vào dòng Ba Phanxicô. Ba năm sau, ngài mở một bệnh viện cho các bệnh nhân nghèo đang dưỡng bệnh, một nhà mở cho những người vô gia cư và một trường học cho người nghèo. Không làm ngơ dân giàu ở TP Guatemala, ngài vừa đi bộ khắp thành phố vừa rung chuông kêu gọi họ ăn năn sám hối.
Có nhiều người đến chia sẻ công việc của ngài. Không lâu sau, họ trở thành Dòng Belem (Bethlehemite Congregation), và được Tòa thánh phê chuẩn sau khi ngài qua đời.

Thứ Bảy Thánh Marcô Tác Giả Sách Tin Mừng Lễ kính.



Lời Chúa: Anh em hãy loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo.
Ha-lê-lui-a. Chúng tôi rao giảng một Đấng Ki-tô bị đóng đinh. Người là sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Ha-lê-lui-a.
Hạnh phúc thay dân nào biết ca ngợi tung hô;
nhờ Thánh Nhan soi tỏ, họ tiến len, lạy Chúa.
Nhờ được nghe danh Ngài, họ suốt ngày hớn hở;
bởi vì Ngài công chính, nên họ được hiên ngang.

Lạy Chúa, tình thương Chúa, đời đời con ca tụng.


Ngày 25/04 – Thánh Máccô, Thánh sử
Đa số những điều chúng ta biết về thánh Máccô đều nhờ Tân ước. Ngài là người được nhắc đến trong sách Tông đồ Công vụ 12:12 (Phêrô ra khỏi tù liền đến nhà bà Maria, mẹ của ông Gioan, cũng gọi là Máccô).
Thánh Phaolô và thánh Barnaba đưa Máccô theo trên đường truyền giáo đầu tiên, nhưng vì một số lý do nên Máccô một mình trở lại Giêrusalem. Rõ ràng Phaolô không cho Máccô theo trên đường truyền giáo lần thứ hai dù Barnaba hết lời năn nỉ, vì Máccô đã làm phật lòng Phaolô. Sau đó, Phaolô yêu cầu Máccô đi thăm ngài trong tù và chúng ta thấy chuyện rắc rối không kéo dài lâu.
Ngắn nhất và cổ nhất trong 4 phúc âm, nhưng phúc âm theo thánh Máccô nhấn mạnh việc Chúa Giêsu bị loài người từ chối. Có thể phúc âm theo thánh Máccô được viết cho dân ngoại trở lại – sau cái chết của thánh Phêrô và Phaolô khoảng những năm 60 và 70 – phúc âm theo thánh Máccô là cách biểu lộ tiệm tiến về một vụ án: Đấng Mêsia bị đóng đinh.
Thánh Phêrô gọi ngài là “con”. Thánh Phêrô chỉ là một trong các nguồn phúc âm, các nguồn khác là giáo hội ở Giêrusalem (gốc Do Thái) và giáo hội ở Antiôkia (đa số là dân ngoại).
Cũng như thánh sử Luca, thánh sử Máccô không thuộc nhóm 12 tông đồ. Chúng ta không thể chắc chắn ngài có đích thân gặp Chúa Giêsu hay không. Một số học giả cho rằng ngài nói về mình khi diễn tả việc bắt Chúa Giêsu ở Gết-sê-ma-ni: “Trong khi đó có một cậu thanh niên đi theo Người, mình khoác vỏn vẹn một tấm vải gai. Họ túm lấy anh. Anh liền trút tấm vải lại, bỏ chạy trần truồng” (Mc 14:51-52).
Thánh Máccô được bổ nhiệm làm giám mục tiên khởi của Alexandria, Ai Cập. Thành Venice, nổi tiếng về bánh Piazza hiệu San Marco (Thánh Máccô), chọn thánh Máccô là thánh bổn mạng, tại thành này có một đại thánh đường có hài cốt của ngài.
Sư tử có cánh là biểu tượng của thánh Máccô. Hình ảnh sư tử rút ra từ các diễn tả của thánh Máccô về thánh Gioan Tẩy giả là “tiếng kêu trong hoang địa” (Mc 1:3), được so sánh với con sư tử đang gầm. Đôi cánh có từ thị kiến của Êdêkien về 4 sinh vật có cánh (sách Edêkien, chương 1).

Thứ Năm, 23 tháng 4, 2015

Thứ Sáu Tuần III Mùa Phục Sinh Ga 6,44-51.



Lời Chúa: Thịt tôi thật là của ăn, máu tôi thật là của uống.
Ha-lê-lui-a. Chúa nói: “ Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy”. Ha-lê-lui-a.
Muôn nước hỡi, nào ca ngợi Chúa,
ngàn dân ơi, hãy chúc tụng Người !
Vì tình Chúa thương ta thật mãnh liệt,
lòng thành tín của Người bền vững muôn năm.

Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, mà loan báo Tin Mừng.


Ngày 24/04 – Thánh Fidelis Sigmaringen, Linh mục Tử đạo (1577-1622)
Nếu người nghèo cần quần áo thì thánh Fidelis thường cho người khác quần áo. Ngài hoàn toàn đại lượng.
Ngài sinh năm 1577, tên là Mark Rey (Fidelis là tên dòng), làm luật sư bênh vực người nghèo và người bị áp bức. Người ta gọi ngài bằng biệt danh “luật sư của người nghèo” (the poor man's lawyer). Ngài ghê tởm sự tham nhũng và bất công của các đồng nghiệp. Ngài bỏ nghề luật sư và đi tu làm linh mục dòng Phanxicô, em ngài cũng là linh mục dòng Phanxicô. Tài sản của ngài được chia cho các chủng sinh nghèo và người nghèo.
Ngài tiếp tục thương người cô thân yếu thế và người nghèo theo tinh thần dòng Phanxicô. Có lần thành phố bị dịch bệnh, ngài đã chăm sóc và chữa bệnh cho nhiều binh sĩ.
Ngài được chọn làm trưởng nhóm và được sai đi rao giảng chống lại phái Tin Lành Can-vanh (Calvinists) và phái Zwinglians (không tin Chúa Giêsu hiện diện thật trong Thánh Thể, phái này xuất hiện năm 1532) ở Thụy Sĩ. Họ cho rằng thất bại của họ là vì lời cầu nguyện của linh mục Fidelis vào ban đêm hơn là vì những bài giảng và huấn giáo của ngài.
Ngài bị kết tội chống lại khao khát độc lập của đất nước muốn thoát ách đô hộ của người Áo. Khi ngài giảng đạo tại Seewis, ngài đã bị bắn nhưng ngài không trúng đạn. Một tín đồ Tin Lành muốn bảo vệ ngài nhưng ngài từ chối, ngài nói rằng cuộc đời ngài ở trong bàn tay Chúa. Trên đường về, ngài bị một nhóm người có vũ trang bắt giữ và sát hại ngài.

Thứ Tư, 22 tháng 4, 2015

Thứ Năm Tuần III Mùa Phục Sinh Ga 6,44-51.



Lời Chúa: Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống.
Ha-lê-lui-a. Chúa nói: “ Tôi là bánh hằng sống từ xuống.Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời”. Ha-lê-lui-a.
Xin chúc tụng Thiên Chúa
đã chẳng bác lời thỉnh nguyện tôi dâng,
lại cũng không dứt nghĩa đoạn tình.

Cả trái đất, hãy tung hô Thiên Chúa.


Ngày 23/04 – Thánh George
Nếu Maria Mađalêna là nạn nhân của sự hiểu lầm thì thánh George là đối tượng của nhiều sự tưởng tượng. Có lý do để tin rằng ngài là người chịu đau khổ và tử đạo thực sự tại Lydda ở Palestine, có thể trước thời kỳ Constantine. Giáo hội gắn liền với ký ức này, nhưng không gắn liền với các truyền thuyết xoay quanh cuộc đời ngài. Ngài sẵn sàng trả giá cao để theo Chúa Kitô, đó là điều giáo hội tin. Và thế là đủ.
Truyền thuyết về thánh George giết rồng, cứu công chúa của vua và cải tà quy chánh Libya là ngụ ngôn của người Ý hồi thế kỷ XII. Thánh George là bổn mạng của thập tự quân (crusaders) và binh sĩ Đông phương thời gian đầu. Ngài còn là thánh bổn mạng của Anh quốc, Bồ Đào Nha, Đức quốc, Aragon, Genoa và Venice.