Thứ Tư, 6 tháng 5, 2015

Thứ Năm Tuần V Phục Sinh Ga 15,9-11.



Lời Chúa: Hãy ở lại trong tình thương của Thầy, để niềm vui của anh em được nên trọn vẹn.
Ha-lê-lui-a. Chúa nói: “ Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng, và chúng theo tôi.”  Ha-lê-lui-a.
Ngày qua ngày, hãy loan báo ơn Người cứu độ,
kể cho muôn dân biết Người thật vinh hiển,

cho mọi nước hay những kỳ công của Người.


Ngày 07/05 – Chân phước Rose Venerini (1656-1728)
Rose sinh tại Viterbo, Ý, là ái nữ của một vị bác sĩ. Sau khi vị hôn phu của bà qua đời, bà vào dòng, nhưng không lâu sau bà về nhà để chăm sóc mẹ già. Khi đó, bà quy tụ các phụ nữ đến nhà mình cùng lần chuỗi Mân côi, tạo sự đoàn kết với nhau.
Được một linh mục Dòng Tên hướng dẫn, chân phước Rose tin rằng mình được gọi làm giáo viên hơn là một nữ tu chiêm niệm trong nhà dòng. Rõ ràng bà đã chọn đúng: Năm 1685, bà mở trường cho các em gái và được mọi người đón nhận.
Đức hồng y mời bà đảm trách việc đào tạo các giáo viên và quản lý các trường học trong giáo phận Montefiascone. Danh tiếng của bà lan truyền, người ta yêu cầu bà mở các trường học ở nhiều nơi trong nước Ý, kể cả Rôma. Cách bố trí của bà đúng với từng người, tuy bà thường xuyên gặp đối lập nhưng không bao giờ bị bác bỏ. Nhóm phụ nữ thường được quy tụ để cầu nguyện cuối cùng trở thành Dòng nữ Venerini (Venerini Sisters). Ngày nay, dòng có ở Hoa Kỳ và nhiều nơi khác, hoạt động giữa cộng đồng người Ý nhập cư.
Bà qua đời tại Rôma năm 1728. Có nhiều phép lạ người ta nói là do bà làm. Bà được phong chân phước năm 1952.

Thứ Ba, 5 tháng 5, 2015

Thứ Tư Tuần V Phục Sinh Ga 15,1-8.



Lời Chúa: Ai ở lại trong Thầy,và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái.
Ha-lê-lui-a. Chúa nói: “ Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em. Ai ở lại trong Thầy, thì sinh nhiều hoa trái.”  Ha-lê-lui-a.
Để danh Chúa, họ cùng xưng tụng,
như lệnh đã truyền cho Ít-ra-en.
Cũng nơi đó, đặt ngai xét xử,

ngai vàng của vương triều Đa-vít.


Ngày 06/05 – Thánh Marian và James, Tử đạo (khoảng năm 259)
Thường thì khó tìm được nhiều chi tiết về đời sống của các thánh thời giáo hội sơ khai. Những gì chúng ta biết về các thánh tử đạo hồi thế kỷ III mà chúng ta kính nhớ hôm nay cũng rất ít. Nhưng chúng ta biết rằng các ngài đã sống và đã chết vì đức tin. Gần 2.000 năm sau, chúng ta có đủ lý do để tôn kính các ngài.
Sinh tại Bắc Phi, Marian là thầy giảng; James là phó tế. Vì đức tin mà các ngài bị hành xử. Không lâu trước khi bị hành xử, Marian và James được 2 giám mục đến thăm và khuyến khích vì đức tin. Một thời gian sau, Marian và James bị bắt và thẩm vấn. Các ngài mạnh dạn tuyên xưng đức tin, rồi bị hành hạ. Ở trong tù, các ngài thấy thị kiến, một trong hai vị giám mục kia cũng có thị kiến. Các ngài bị bịt mắt và bị giết chết, rồi họ ném thi hài các ngài xuống sông.


Ngày 06/05 Lễ của Đaminh Saviô được mừng kính hàng năm.
Nhiều người thánh thiện dường như lại chết yểu. Trong số đó có Thánh Ðaminh Saviô, quan thầy của các chú hội hát.
 Sinh trong một gia đình nông dân ở Riva, Ý Ðại Lợi, ngay từ khi lên bốn, mẹ ngài đã thấy cậu con trai bé nhỏ quỳ cầu nguyện trong một góc nhà. Lúc năm tuổi, ngài là chú giúp lễ. Khi lên bẩy, ngài được Rước Lễ Lần Ðầu. Vào ngày trọng đại ấy, ngài đã chọn phương châm: "Thà chết chứ không phạm tội!" và ngài luôn luôn giữ điều ấy.
Quả thật, Ðaminh là một cậu bé bình thường nhưng lòng yêu mến Thiên Chúa của cậu thật phi thường. Vào lúc 12 tuổi, Ðaminh theo học trường của Thánh Don Bosco. Qua cách cầu nguyện của Ðaminh, mọi người trong trường đều nhận thấy cậu thật khác biệt. Ðaminh yêu quý tất cả mọi người, và dù trẻ hơn họ, cậu cũng lo lắng để ý đến họ. Cậu sợ rằng họ sẽ mất ơn sủng của Thiên Chúa vì tội lỗi.
 Có lần, chúng bạn đưa cho cậu xem hình ảnh đồi trụy. Vừa thoáng nhìn thấy, cậu đã cầm lấy tờ báo xé tan ra từng mảnh và hỏi, "Thiên Chúa ban cho chúng ta cặp mắt để nhìn những điều xấu xa như vậy hả? Các anh không thấy xấu hổ sao?"
 Một lần khác, hai đứa con trai giận dữ lấy đá ném nhau. Thấy thế, Ðaminh đứng vào giữa, cầm tượng thánh giá nhỏ đưa lên cao, và nói, "Trước khi đánh nhau, mấy anh hãy nhìn vào thánh giá và nói, 'Ðức Giêsu Kitô vô tội khi Ngài chịu chết đã tha thứ cho kẻ giết mình. Tôi là kẻ tội lỗi, và tôi sẽ làm đau khổ Ngài khi không tha thứ cho kẻ thù.' Rồi sau đó mấy anh hãy bắt đầu - và hãy ném đá tôi trước!"
 Hai anh kia cảm thấy xấu hổ, xin lỗi nhau và hứa sẽ đi xưng tội.
 Sức khoẻ của Ðaminh rất mỏng manh, thường hay đau yếu luôn và đưa đến biến chứng về phổi khiến cậu phải về nhà để tĩnh dưỡng. Tuy nhiên, khi ở nhà, bệnh tình lại càng gia tăng nên đã được chịu các Bí Tích sau cùng. Lúc ấy Ðaminh mới 15 tuổi, nhưng cậu không sợ chết. Thật vậy, cậu vô cùng sung sướng khi nghĩ đến lúc được lên thiên đàng. Ngay trước khi chết, cậu cố gượng ngồi dậy. Cậu nói thầm vào tai cha mình, "Giã biệt bố". Rồi bỗng dưng mặt cậu tươi sáng với nụ cười rạng rỡ. Cậu kêu lên, "Con đang nhìn thấy những điều kỳ diệu!" và trút hơi thở cuối cùng.
 Chính Thánh Don Bosco là người viết lại tiểu sử của Ðaminh Saviô.
 Ðaminh Saviô được phong thánh năm 1954. Trong buổi lễ phong thánh, Thánh Giáo Hoàng Piô X đã nói, "Một thiếu niên như Ðaminh, là người cố gắng giữ mình sạch tội từ khi rửa tội cho đến khi chết, quả thật là một vị thánh".
Thánh Ðaminh Saviô thường nói: "Tôi không làm được những điều trọng đại. Nhưng tôi muốn tất cả những gì tôi làm, ngay cả những gì nhỏ nhặt nhất, là để vinh danh Thiên Chúa".

Thứ Hai, 4 tháng 5, 2015

Thứ Ba Tuần V Phục Sinh Ga 14,27-31a.



Lời Chúa: Thầy ban cho anh em bình an của Thầy.
Ha-lê-lui-a. Đức Ki-tô phải chịu khổ hình, và từ cõi chết sống lại, rồi mới được hưởng vinh quang dành cho Người. Ha-lê-lui-a.
Môi miệng tôi, hãy dâng lời ca tụng Chúa,
chúng sinh hết thảy, nào chúc tụng Thánh Danh
đến muôn thuở muôn đời.


Ngày 05/05 – Thánh Hilary Arles, Giám mục (400-449)
Người ta thường nói tuổi trẻ hay lãng phí. Theo cách nào đó, cuộc đời thánh Hilary Arles cũng vậy.
Ngài sinh tại Pháp, trong một gia đình quý tộc. Khi đi học, ngài gặp một người thân là ĐGM Hônôratô, và người này đã giúp ngài đi tu. Ngài tiếp tục theo bước của ĐGM Hônôratô. Ngài làm linh mục, rồi ngài được bổ nhiệm làm giám mục giáo phận Arles khi mới 29 tuổi.
Giám mục trẻ lãnh sứ vụ với lòng tự tin. Ngài lao động chân tay để kiếm tiền cho người nghèo. Ngài bán chén lễ để chuộc các tù nhân. Ngài giảng thuyết rất hùng hồn. Ngài đi bộ khắp nơi và luôn mặc quần áo giản dị.
Nhưng ngài cũng gặp khó khăn trong các mối quan hệ với các giám mục khác mà ngài đã phê phán. Ngài đơn phương một phe. Ngài chọn một giám mục khác để thay thế giám mục bị bệnh, phức tạp hóa các vấn đề, nhưng không đến nỗi! Thánh Giáo hoàng Lêô Cả giữ ngài làm giám mục nhưng tước một số quyền của ngài. Thánh Hilary là người có tài nhưng có lòng thương người.

Thứ Bảy, 2 tháng 5, 2015

Thứ Hai Tuần V Phục Sinh Ga 14,21-26.



Lời Chúa: Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều.
Ha-lê-lui-a. Thánh Thần sẽ dạy anh em mọi điều, và làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em.Ha-lê-lui-a.
Nguyện xin Chúa, Đấng dựng nên đất trời,
xuống muôn phúc lành cho anh em.
Trời là trời của Chúa,

còn đất thì Chúa cho con cái loài người.


Ngày 04/05 – Chân phước Michael Giedroyc (khoảng năm 1485)
Cuộc sống đau khổ cả thể lý lẫn tinh thần vẫn không thể ngăn cản Michael Giedroyc sống thánh thiện. Ngài sinh gần Vilnius, Lithuania, và bị khuyết tật bẩm sinh. Ngài thấp bé và chỉ có một chân. Vì khuyết tật, việc học tập của ngài cũng thường bị gián đoạn, nhưng ngài chứng tỏ khả năng đặc biệt về làm đồ kim loại. Ngài khéo léo làm những chén thánh bằng đồng và bạc.
Ngài tới Cracow, Ba Lan, và nhập dòng thánh Augustinô. Ngài được phép sống ẩn tu trong phòng. Ngài chuyên cần cầu nguyện, ăn chay và hãm mình, nhưng sống thọ. Ngài hiểu ý nghĩa sự đau khổ qua cuộc đời ngài, nhưng ngài giàu về tâm linh và điều đó đã an ủi ngài. Ngài qua đời khoảng năm 1485 ở Cracow.
500 năm sau, chân phước Gioan-Phaolô II đã đến thăm thành phố này và nói với bạn giảng huấn của Học viện Giáo hoàng Thần học (Pontifical Academy of Theology) rằng thế kỷ 15 ở Cracow là “thế kỷ của các thánh”, trong đó có chân phước Michael Giedroyc.

Thứ Sáu, 1 tháng 5, 2015

Chúa Nhật V Phục Sinh Năm B



Lời Chúa: Ai ở lại trong Thầy, và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái.
     Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Thầy là cây nho thật, và Cha Thầy là người trồng nho. Cành nào gắn liền với Thầy mà không sinh hoa trái, thì Người chặt đi ; còn cành nào sinh hoa trái, thì Người cắt tỉa cho nó sinh nhiều hoa trái hơn. Anh em được thanh sạch rồi nhờ lời Thầy đã nói với anh em. Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em. Cũng như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái, nếu không gắn liền với cây nho, anh em cũng thế, nếu không ở lại trong Thầy.

     “Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được. Ai không ở lại trong Thầy, thì bị quăng ra ngoài như cành nho và sẽ khô héo. Người ta nhặt lấy, quăng vào lửa cho nó cháy đi. Nếu anh em ở lại trong Thầy và lời Thầy ở lại trong anh em, thì muốn gì, anh em cứ xin, anh em sẽ được như ý. Điều làm Chúa Cha được tôn vinh là : Anh em sinh nhiều hoa trái và trở thành môn đệ của Thầy.”


SUY NIỆM & CẦU NGUYỆN
       Tin Mừng hôm nay Chúa tuyên bố: “Thầy là cây nho thật” Chúa đã dùng hình ảnh cây nho để nói lên sự gắn bó của Chúa với các Kitô hữu. Bởi vì theo Kinh Thánh, cây nho là một biểu tượng rất quen thuộc đối với người Do-thái, Hình ảnh cây nho là sự liên kết, gắn bó giữa thân và các cành. Ám chỉ Đức Kitô Phục Sinh là thân cây nho còn các Kitô hữu là những cành nho, và các cành cây nho sẽ sinh hoa kết trái. Các cành nho càng liên kết với thân nho thì càng sinh nhiều hoa trái. Chúa dạy, chúng ta phải luôn kết hợp mật thiết với Chúa. Có kết hợp mật thiết với Chúa, chúng ta mới đem lại kết quả thiêng liêng tốt đẹp đối với người khác và đối với chính bản thân mình.
       Và người Kitô hữu chúng ta cũng phải quyết tâm từ bỏ những nết xấu, từ bỏ con đường tội lỗi, từ bỏ cuộc sống ích kỷ hẹp hòi, hận thù và chia rẽ. Để quay về nẻo chính đường ngay và sống tinh thần Phúc Âm Chúa dạy, rồi chúng ta phải phấn đấu hy sinh, nỗ lực thật nhiều, phải vất vả cực khổ để sinh nhiều hoa trái thiêng liêng cho cuộc sống ngày nay, càng nhiều hoa trái, càng làm vinh danh Thiên Chúa, càng trở nên người môn đệ của Chúa Giêsu, càng đem lại ích lợi cho anh em, như Chúa Giêsu đã nói: “Điều làm Chúa Cha được tôn vinh là anh em sinh nhiều hoa trái và trở thành môn đệ của Thầy”. Lời đó là kim chỉ nam cho đời sống người Ki-tô hữu chúng ta phải theo.
       Lạy Chúa, xin giúp chúng con can đảm trong mọi hoàn cảnh, để đủ sức kiên tâm chịu đựng và quyết tâm theo Chúa đến cùng, xin cho chúng con được trở nên những người tín hữu đích thực và đáng được hưởng gia nghiệp Nước Chúa muôn đời. Amen.


Ngày 03/05 – Thánh Philipphê và Giacôbê, Tông đồ
+ Giacôbê là con của Alphaeus: Chúng ta không biết gì về ngài ngoài tên gọi, và sự thật là Chúa Giêsu đã chọn ông làm 12 cột trụ của Israel mới, tức là Giáo hội. Ngài không là Giacôbê trong sách Công vụ, con của Clopas, “anh em” của Chúa Giêsu, sau đó là giám mục Giêrusalem và là tác giả của Thư Thánh Giacôbê. Giacôbê là con của Alphaeus được gọi là Giacôbê Nhỏ để tránh lầm lẫn với Giacôbê là con của Dêbêđê, cũng là tông đồ và là Giacôbê Cả.
+ Philipphê ở cùng thành phố của thánh Phêrô Anrê, là Bethsaiđa ở Galilê. Chúa Giêsu trức tiếp gọi ngài, lúc đó Chúa thấy Nathanael và gọi ông là “người mà Môsê đã nhắc tới” (Ga 1:45).
Cũng như các tông đồ khác, Philipphê phải mất một thời gian dài mới nhận biết Chúa Giêsu là ai. Một lần nọ, Chúa Giêsu thấy nhiều người đi theo Ngài và muốn cho họ ăn, Ngài hỏi Philipphê có thể mua bánh cho họ ăn không. Thánh Gioan viết: “Chúa Giêsu nói thế để thử ông, chứ Người đã biết mình sắp làm gì rồi. Ông Philípphê đáp: “Thưa, có mua đến hai trăm quan tiền bánh cũng chẳng đủ cho mỗi người một chút” (Ga 6:6-7).
Chuyện kể của thánh Gioan không có ý “nói xấu” Philipphê. Đơn giản là cần thiết để những người này là “nền móng” của giáo hội có thể phân biệt rõ sự bơ vơ của con người khác với Thiên Chúa, khả năng của con người có thể chịu được thần lực nhờ tặng phẩm của Thiên Chúa.
Một dịp khác, sau khi thánh Tôma giải thích rằng họ không biết Chúa Giêsu sắp đi đâu, Chúa Giêsu nói:“Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy. Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha Thầy. Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người. Ông Philípphê nói: “Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện. Đức Giê-su trả lời: “Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Phi-líp-phê, anh chưa biết Thầy ư? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Ga 14:6-9).
Có thể vì thánh Philipphê là người có tên Hy Lạp hoặc vì được coi là thân cận với Chúa Giêsu, một số người mới nhập đạo đến gặp ông và nhờ ông giới thiệu với Chúa Giêsu. Philipphê đi gặp Anrê, và Anrê đi gặp Chúa Giêsu. Câu trả lời của Chúa Giêsu chỉ nói gián tiếp. Ngài nói rằng “giờ” của Ngài đã đến, Ngài sẽ trao ban sự sống của Ngài cho cả người Do Thái và dân ngoại.

Bạn Có Yêu Mến Đức Maria Không.



     Nguyên tắc khi tặng quà là, người tặng cần chọn những thứ mà người nhận mong muốn chứ không tặng những cái mà mình có. Vậy tháng hoa hàng năm chúng ta nên tặng Đức Maria những món quà gì? Chúng ta cùng phân tích những “sở thích” của Đức Maria trong Tin Mừng và những lần Mẹ maria đã hiện ra.
    Tìm hiểu Tin Mừng, chúng ta sẽ thấy những lúc Chúa Giêsu vinh quang, Mẹ Maria lại thường vắng (Chúa biến hình trên núi Tabo, khi vào thành Giêrusalem. . .) nhưng lại hiện diện những lúc khó khăn, nguy nan (chạy trốn Ai cập, trên đồi Canvê và dưới chân thập giá. . .). Ngẫm lại những đặc trưng trên, chúng ta nhận ra Đức Maria là mẫu gương cho chúng ta về sự khiêm cung, phục vụ, xin vâng, cuộc sống nội tâm, nghèo khó, chịu đựng và trong sạch.
    Nghiên cứu những lần hiện ra của Đức Maria lại cho chúng ta tìm thấy những mẫu số chung sau, Mẹ Maria thường chọn những nơi hoang vắng, nghèo nàn. Đối tượng được Mẹ Maria cho hưởng diễm phúc “nhìn thấy” là những người chất phát, đơn sơ.
    Tháng 05 thường kỳ, chúng ta thành kính dâng lên Mẹ Maria những nhánh huệ tươi, các tràng mân côi sốt sắng, những cuộc hành hương về nguồn, những hy sinh vất vả. . . Việc tìm hiểu Tin Mừng và những lần Đức Maria hiện ra giúp ta nhận thức sâu sắc rằng: các công việc này sẽ trở nên tốt hơn nếu được thực hiện trong sự đơn sơ, chân thành, không ngại khó và hướng nội.
    Tháng 05 đã đến, đây là lúc chúng ta có thể đặt lại câu hỏi: bạn yêu mến Đức Maria không? Và dù biết trăm năm là hữu hạn, bạn có tuyệt đối tin rằng, sự sống đời sau của chúng ta sẽ thuộc về một trong ba nơi: thiên đàng, luyện ngục hoặc hỏa ngục không? Cuối cùng, chúng ta sẽ thuộc về nơi nào, là do phép cộng các công việc mà chúng ta đã làm trên trần thế. Trả lời một cách nghiêm túc  hai câu hỏi đơn giản trên, giúp ta quyết tâm canh tân chính mình và tháng 05 là một cơ hội tốt. Mẹ Maria rất vui mừng khi con của Mẹ chọn lựa sự đầu tư vào thiên đàng ngay từ ngày hôm nay, và Mẹ sẽ rất đau khổ khi những người con vẫn tiếp tục đi trên những nẻo đường xa rời Thiên Chúa.
     Lạy Mẹ Maria, chúng con thật hạnh phúc vì luôn được bao bọc trong tình yêu của Mẹ.

Sưu Tầm.

Ý Nghĩa Tháng Năm Dâng Hoa Cho Đức Mẹ Maria.



    Việc dâng hoa tôn kính Mẹ trong tháng Năm không là một truyền thống riêng gì của người Kitô hữu Việt Nam. Tháng Năm ở vùng nhiệt đới như Việt Nam và một số nước Á châu khác , hẳn không phải là tháng của hoa mà phải là tháng của nắng cháy khô cằn, của cỏ khô thì đúng hơn. Việc dâng hoa kính Đức Mẹ đã bắt nguồn từ truyền thống Tây phương.
    Từ nghìn xưa trước Kitô giáo xuất hiện, người dân Tây phương đã xem tháng Năm là tháng của hoa. Bước vào cao điểm của mùa xuân, khí hậu dịu mát, đi đâu người ta cũng thấy hoa nở rộ. Hoa dễ gây cảm xúc và gợi hứng trong lòng người. Thanh niên thiếu nữ thường múa hát và tặng hoa cho nhau.

    Kitô giáo luôn biết thích nghi với văn hoá của con người. Những yếu tố tự nhiên đây, mặc dù là của các tôn giáo cổ xưa đã được người Kitô hữu mượn để tỏ lòng tôn kính đối với Đức Maria, tạo vật cao cả nhất, đồng thời cũng là người phụ nữ cao quý đẹp đẽ nhất.


    Người đầu tiên gắn liền tháng Năm với hình ảnh Mẹ Maria có lẽ là Anphongsô thứ X, vua vùng Catilia vào khoảng cuối thế kỷ thứ XIII. Ông đã để lại một tập thơ ca tụng Đức Mẹ, kêu gọi thánh hoá tháng Năm thành một niềm vui thánh thiện dâng kính Mẹ. Tại Rôma, vào khoảng thế kỷ thứ XVI, thánh Philipphê Nêri dạy cho các bạn trẻ cách tôn kính Mẹ trong tháng Năm. Song song với việc kết hoa lên các ảnh tượng của Đức Mẹ, thánh nhân nhắn nhủ các bạn trẻ không những ca hát để chúc tụng Mẹ, nhưng còn thực thi các hành vi đạo đức và yêu thương của mình. Đó là những bước khởi đầu trong lịch sử tháng Năm. Mãi cho đến gần cuối thế kỷ XVII, người ta mới thấy việc tôn kính Đức Mẹ trong tháng Năm được hệ thống hoá. Tại một tập viện Đaminh nọ bên Italia, các tu sĩ dâng tháng Năm để tôn kính Mẹ bằng những việc đạo đức đặc biệt. Ban đầu người ta dành riêng ngày đầu tháng Năm, sau đó là mỗi ngày thứ bảy trong tháng Năm, để rồi cuối cùng vào khoảng năm 1701, tất cả mọi ngày trong tháng Năm thường được dâng kính cho Đức Mẹ. Dần dà hình thức tôn kính Mẹ trong tháng Năm được truyền bá đi khắp Âu châu, Mỹ châu và các xứ truyền giáo.


    Tháng Năm vẫn là tháng sốt sắng của các Kitô hữu nhất là các Kitô hữu Việt Nam. Bầu khí của những gặp gỡ, quang cảnh của những buổi dâng hoa, đều gợi lên niềm sốt sắng của người Kitô hữu. Con người là một thực thể duy nhất, nghĩa là gồm có lý trí, tình cảm, những sinh động gắn liền với ngoại cảnh và thân xác. Giáo Hội vẫn luôn tôn trọng tất cả những thành phần sáng tạo cao quý của con người. Đó là lý do khiến Giáo Hội luôn cổ võ những hình thức đạo đức bình dân. Tuy nhiên những hình thức cũng dễ đưa con người đến chỗ lệch lạc. Một cách cụ thể: nền đạo đức bình dân nào cũng có thể làm cho con người đánh mất những chiều kích khác trong đức tin, ý nghĩa của phụng vụ, những đòi hỏi của bác ái, công bình. Trong tông huấn về việc tôn kính Đức Mẹ, Đức cố Giáo Hoàng Phaolô VI đã đặt lại chỗ đứng của việc tôn kính Đức Mẹ Maria, nghĩa là việc tôn kính Mẹ Maria phải được đặt vào trong tương quan của mầu nhiệm ơn cứu rỗi, việc tôn kính Đức Mẹ phải được đi đôi với những mầu nhiệm trong cuộc đời của Đức Kitô.


    Việc tôn kính Mẹ Maria trong tháng Năm là một truyền thống tốt đẹp, nhưng nhờ Mẹ Maria để đến với Chúa, cùng đích của mọi việc tôn thờ là chính Chúa. Trong niềm hiếu thảo đối với Mẹ Maria, người Kitô hữu luôn được mời gọi để không ngừng kết hiệp với Chúa. Bên trên những biểu dương có tính cách tình cảm, người Kitô hữu luôn được mời gọi để thanh luyện đức tin của họ, nghĩa là mỗi lúc một đi sâu vào sự kết hiệp mật thiết với Chúa qua đời sống Bí tích, cũng như thực hành đức ái. Trong ý hướng ấy người Kitô hữu không nhìn lên Mẹ Maria như một Nữ Thần, mà là một tín hữu mẫu mực, một người tín hữu đã tiên phong trong hành trình đức tin.
Sưu Tầm.