Thứ Hai, 6 tháng 10, 2014

Thứ Ba Lễ Nhớ Đức Mẹ Mân Côi.



Lời Chúa: Này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai.
“ Ha-lê-lui-a. Kính chào Đức Maria, Mẹ đầy ân sủng, Thiên Chúa ở cùng Mẹ, Mẹ có phúc hơn mọi người phụ nữ. Ha-lê-lui-a.”
Chúa độ trì Ít-ra-en tôi tớ của Người
Như đã hứa cùng cha ông chúng ta
Vì Người nhớ lại lòng thương xót
Dành cho tổ phụ Áp-ra-ham

Và cho con cháu đến muôn đời.


Ngày 07/10-Đức Mẹ Mân Côi
ĐGH Piô V thiết lập lễ này năm 1573. Mục đích là tạ ơn Chúa về chiến thắng của Kitô giáo đối với quân Thổ Nhĩ Kỳ tại Lepanto – một chiến thắng nhờ Kinh Mân Côi. ĐGH Clêmentô XI cho mừng lễ này trong toàn Giáo hội năm 1716.
Sự phát triển Kinh Mân Côi là một lịch sử dài. Đầu tiên, Chuỗi Mân Côi được phát triển là 150 kinh Lạy Cha để bắt chước bộ 150 thánh vịnh. Sau đó thêm 150 kinh Kính Mừng. Không lâu sau, các mầu nhiệm cuộc đời Chúa Giêsu được thêm vào sau kinh Kính Mừng. Dù việc Đức Mẹ trao Chuỗi Mân Côi cho thánh Đa Minh được ghi nhận, việc phát triển Chuỗi Mân Côi vẫn thuộc về những người theo thánh Đa Minh. Một người trong số đó là tu sĩ Alan de la Roche, được coi là “Tông đồ của Chuỗi Mân Côi”. Ngài đã thành lập Hội Mân Côi (Confraternity of the Rosary) từ thế kỷ 15. Thế kỷ 16, Chuỗi Mân Côi được phát triển thành dạng như ngày nay – với 15 mầu nhiệm (Vui, Thương, Mừng). Năm 2002, chân phước GH Gioan Phaolô II đã thêm 5 mầu nhiệm Sự Sáng vào Kinh Mân Côi.


ĐỨC MẸ MÂN-CÔI FATIMA.

Khi chọn 3 em Thiếu Nhi Fatima để hiện ra năm 1917, hình như Mẹ Maria đã có ý định là sẽ trao phó cho mỗi em một sứ mệnh thì phải.
Lucia, bấy giờ 10 tuổi, là Thiếu Nhi Fatima lớn nhất, theo Mẹ tiết lộ cho biết là "sẽ phải ở lại thế gian lâu hơn (hai em mình)". Tại sao? Vì "Chúa Giêsu muốn dùng con để làm cho Mẹ được nhận biết và yêu mến", bởi "Người muốn thiết lập trên thế gian lòng tôn sùng Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ". Như thế, sứ mạng của Lucia là làm cho Mẹ được nhận biết và yêu mến bằng cách truyền bá lòng sùng kính Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ.
Phanxicô, bấy giờ xít xoát 9 tuổi, là Thiếu Nhi Fatima nam duy nhất, trong tất cả 6 lần Ðức Mẹ hiện ra, em chỉ được nhìn thấy Mẹ mà không hề được nghe thấy Mẹ nói gì. Thế nhưng, chính ấn tượng về hình ảnh sầu bi của Mẹ khi hiện ra lần cuối cùng, với lời van xin loài người "Ðừng xúc phạm đến Chúa là Thiên Chúa của chúng ta nữa, vì Ngài đã bị xúc phạm nhiều lắm rồi", đã làm cho Phanxicô thương Mẹ hơn ai hết. Em đã không bỏ lỡ một dịp nào có thể làm em lánh xa mọi sự, kể cả Lucia và Giaxinta thân yêu nhất của em, để âm thầm cầu nguyện, an ủi Mẹ "là Ðấng Quá Buồn".
Kinh nguyện mà Phanxicô thường dùng để cầu nguyện, đó là Kinh Mân Côi, kinh mà Mẹ Maria, ngay từ lần hiện ra đầu tiên, đã bảo em phải lần hạt mới được thấy Mẹ và mới được lên Thiên Ðàng. Như thế, sứ mệnh của Phanxicô là cầu nguyện bằng Kinh Mân Côi để an ủi đền tạ Ðức Mẹ.
Giaxinta, bấy giờ mới có 7 tuổi, là Thiếu Nhi Fatima nhỏ nhất, nhưng cũng có một sứ mệnh rất đặc biệt, đó là hy sinh cầu cho các tội nhân ăn năn cải thiện đời sống. Thật vậy, sau khi được Ðức Mẹ cho xem thấy hỏa ngục vào lần hiện ra thứ ba của Người, Giaxinta bị ảnh hưởng nhiều nhất. Bởi thế, em đã không bỏ lỡ một cơ hội nào, như Thiên Thần dạy, "làm mọi sự có thể để hy sinh" cầu cho tội nhân cho khỏi sa hỏa ngục đời đời.


Nếu việc cứu các linh hồn Tội nhân cho khỏi hư mất đời đời, Ðức Mẹ đòi các em Thiếu Nhi Fatima bấy giờ, mà thần tượng là Giaxinta, phải "sẵn sàn hiến mình cho Thiên Chúa chịu đựng tất cả mọi đau khổ Ngài gửi đến cho" và phải "làm mọi sự có thể để hy sinh", thì việc cứu toàn thế giới chịu khỏi chiến tranh để được hưởng một nền hòa bình chân thật, Ðức Mẹ lại đòi các em, mà Phanxicô là thần tượng, phải lần hạt Mân Côi, như Người tỏ cho các em biết vào lần hiện ra thứ ba, ngày 13.8.1917, là: "Hãy tiếp tục cầu nguyện Kinh Mân Côi, cầu cho hòa bình thế giới và chấm dứt chiến tranh, vì chỉ có Người mới có thể cứu giúp các con."
Tại sao lần hạt Mân Côi là điều kiện duy nhất và là phương thế hữu hiệu, theo ý của Ðức Mẹ, để cứu thế giới cho khỏi chiến tranh và được hưởng hòa bình?
Phải chăng, như lời Mẹ nói, vì Mẹ là "Ðức Mẹ Mân Côi". Bằng không, tại sao Mẹ lại liên kết, trong cùng một câu, ba ý tưởng, đầu tiên là "để tôn kính Ðức Mẹ Mân Côi", tiếp theo là "cầu cho hòa bình thế giới và chấm dứt chiến tranh", và kết luận là "vì chỉ có Người mới có thể cứu giúp các con?"
Thật vậy, chính vì Mẹ Maria là "Ðức Mẹ Mân Côi" mà chúng ta lần hạt để tôn kính Mẹ, Mẹ sẽ ban hòa bình cho thế giới. Thế nhưng "Ðức Mẹ Mân Côi" là gì?
Tại sao "Ðức Mẹ Mân Côi" sẽ ban hòa bình cho thế giới nếu chúng ta lần hạt Mân Côi?


"Ðức Mẹ Mân Côi" là một tước hiệu có tính cách diễn giải về thiên chức "Mẹ Thiên Chúa" của Ðức Mẹ. Mẹ Maria là Mẹ của Chúa Giêsu, Ðấng là tâm điểm của Mầu Nhiệm Mân Côi và làm nên Mầu Nhiệm Mân Côi, nếu không muốn nói Chúa Giê-su Kitô còn chính là Mầu Nhiệm của Thiên Chúa (xem Côlôsê 2:2), Mầu Nhiệm được thể hiện trọn vẹn và tóm gọn nơi Mầu Nhiệm Mân Côi.
"Ðức Mẹ Mân Côi", vì là một tước hiệu có tính cách diễn giải về Mẹ Thiên Chúa như thế, do đó, nói đến "Ðức Mẹ Mân Côi" là nói đến việc Người đã khai mào cho mầu Nhiệm Mân Côi, đã tham dự vào Mầu Nhiệm Mân Côi và đã áp dụng Mầu Nhiệm mân Côi.
Vì đã khai mào, tham dự và hoàn thành Mầu Nhiệm Mân Côi như thế, Mẹ Maria vừa là Mẹ Thiên Chúa vừa là Ðấng Ðồng Công Cứu Chuộc. Bởi thế, tước hiệu "Ðức Mẹ Mân Côi" cũng là một tước hiệu có tính cách thực hiện cho sứ mệnh làm "Mẹ Ðồng Công" của Mẹ.

Chủ Nhật, 5 tháng 10, 2014

Thứ Hai Tuần XXVII Thường Niên.



Lời Chúa: Ai là người thân cận của tôi?.
“ Ha-lê-lui-a. Chúa nói: Thầy ban cho anh em một điều răn mới, là anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em. Ha-lê-lui-a.”
Giao ước lập ra muôn đời Chúa nhớ mãi
Người đem lại cho dân ơn giãi thoát
Thiết lập giao ước đến muôn đời
Tôn danh Người thánh thiêng khả úy

Mãi đến thiên thu còn vang tiếng ngợi khen Người.


Ngày 06/10-1825-1858 Thánh Phanxicô Trần Văn Trung Cai Đội Tử Đạo
* Đánh Tây thì đánh, bỏ đạo thì không
"Tên trung làm cơ đội Tuyên văn Phong, trước đây bị cáo về tội gian lận trong kỳ thi sát hạch, phải giáng chức và xử trọng tội, nay xin gia nhập sổ lính đi đánh giặc nhưng lại không chịu quá khóa nên đáng xử trảm".
Đọc lại bản án của ông cai đội Phanxicô Trần Văn Trung trên đây, mọi người hiểu ngay tấm lòng của vị thánh. Cũng như hầu hết những người công giáo thời vua Tự Đức, ông Trung tình nguyện tham gia việc chống ngoại xâm bảo vệ quê hương, nhưng vẫn trung thành với Thiên Chúa.
Phanxicô Trần Văn Trung, sinh khoảng năm 1825 tại Phan Xá, tỉnh Quảng Trị, dưới thời vua Minh Mạng, thuộc gia đình Công Giáo. Thân phụ của cậu trước đây cũng là cai đội. Khoảng năm 24 tuổi, anh Trung kết hôn với một thiếu nữ cùng làng, và sinh được bốn người con. Như các gia đình Công Giáo khác, ông cai đội chu toàn trách vụ Kitô hữu.
Vì một lý do đặc biệt, ông đã bị giam trong tù. Một lần kia, cùng với mười một bạn đồng ngũ, ông phải dự cuộc khảo thí. Trong tình hình bất an thời bấy giờ, muốn việc thi cử trót lọt dễ dàng, phải hối lộ với quan trên. Dù đủ điều kiện trúng tuyển, ông không thể làm khác hơn. Không may, vì việc chia tiền không đồng đều, các quan tranh cãi với nhau. Vua Tự Đức biết tin liền cho cả 12 cai đội vào ngồi tù.
* Yêu nước và tin chúa
Sau khi cửa Hàn bị quân Pháp dưới sự chỉ huy của đô đốc Rigault de Genouilly đánh chiếm ngày 01.09.1858, vua Tự Đức liền cho phóng thích các binh lính giam giữ để bổ sung vào số quân bảo vệ kinh thành Huế. Ông cai đội Trung và các bạn hăng hái hưởng ứng. Nhưng khi sắp được xuất trận các quan bắt ép các ông phải bước qua Thập Giá. Mười một người kia liền theo lệnh, còn ông Trung nhất định không chịu nghe. Các quan hỏi : - Tại sao không chịu đạp lên Thập Giá ? Có phải mi theo đạo không ?
- Thưa phải, tôi là người Công Giáo. Tôi sẵn sàng đi đánh giặc để bảo vệ tổ quốc, nhưng không bao giờ tôi lại bỏ đạo.
Câu nói khẳng khái trọn vẹn đôi đàng của người công dân tổ quốc và người con của Thiên Chúa ấy đã đưa ông cai đội Trung trở lại nhà ngục. Một tháng bị giam, ông bị điệu ra tra hỏi nhiều lần, bị tra tấn ba lần, mỗi lần 50 roi. Những trận đòn đó không làm cho người chiến sĩ đức tin bỏ cuộc. Dự đoán mình sẽ bị xử tử, ông chẳng những không sợ lại tỏ ra chờ mong ngày đó nữa.


* Người gia trưởng gương mẫu
Dầu sắp chịu án tử, ông đội Trung đã bình tĩnh thu xếp việc gia đình cách khéo léo. Ông căn dặn vợ: "Tôi có bị chết, mình lo săn sóc các con nhé ! Hãy hết lòng yêu thương các con, đừng tái hôn với ai nữa nhé !". Đứa con nhỏ tám tuổi của ông tên là Catarina Thông được phép ở lại giúp đỡ ông một tháng. Đến khi nghe tin ở xứ nhà để theo học giáo lý và khuyên con vâng lời dạy bảo của các linh mục.
Khi nhớ ra còn thiếu nợ một vài người, ông tỏ vẻ lo lắng vì sợ các chủ nợ bắt các con mình ở đợ để trừ nợ, vừa cực khổ lại vừa có thể quên cả đạo nghĩa nữa, nên ông căn dặn vợ rất kỹ lưỡng, những đồ đạc nào trong nhà phải bán đi và thanh toán nợ nần cho chu đáo.
* Thánh Giá trên cổ
Khi không còn hy vọng làm cho ông đội Trung mất niềm tin, các quan liền làm án tâu xin vua Tự Đức cho lệnh trảm quyết. Nhà Vua liền châu phê. Sáng 06.10.1858, ông đội Trung được dẫn ra pháp trường An Hòa (Huế). Năm viên quan cưỡi ngựa và 60 lính đi bộ hộ tống. Cha Anrê Thoại ở họ dương sơn biết tin, liền cải trang đi với một thầy giảng tới giải tội cho ông. Cha nhắn một người bà con của ông tín hiệu nhận ra cha: người sẽ cầm một điếu thuốc giơ cao ngang mặt. Ông đội đã chuẩn bị tâm hồn để lãnh nhận Bí tích Giải tội lần cuối cùng.
Nhưng sự việc lại diễn tiến thể khác : các quan đình việc xử lại, và cho người về xin nhà vua tha cho ông, lấy cớ việc xử án có thể bị hiểu lầm là khiêu khích quân Pháp, họ sẽ đánh thì nguy. Đoàn người chờ đến 18 giờ chiều vẫn chưa có tin, liền kéo nhau vào quán nghỉ ngơi, và dẫn ông đội Trung đã bị trói cẩn thận đi theo. Chờ đến khoảng 20 giờ tối, chiếu chỉ vua Tự Đức gởi tới nơi ra lệnh xử tức khắc và đe phạt những quan đã dám xin ân xá cho ông.
Được tin, ông đội Trung hỏi tìm cha Thoại nhưng cha đã trở về vì tưởng ngày mai mới xử án. Lúc đó, ông liền quỳ xuống nền đất, xin đao phủ lấy vôi vẽ trên cổ hình Thánh Giá, để chứng tỏ mình trung kiên với Đức Kitô đến cùng. Sau đó, ông hiên ngang đưa cổ cho lý hình chém. Thủ cấp ông bị bêu ba ngày để làm gương, rồi mới được đem chôn. Hiện nay thi hài của vị chứng nhân được lưu giữ ở nhà thờ họ Dương Sơn.
Đức Piô X suy tôn ông đội Phanxicô Trần Văn Trung lên bậc Chân Phước ngày 02.05.1909. Ngày 19-06-1988, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên hàng Hiển thánh.


Ngày 06/10-Thánh Brunô, Linh mục (1030?-1101)
Ngài sinh tại Cologne, Đức quốc, là thầy dạy nổi tiếng tại Rheims và được bổ nhiệm làm chưởng ấn tổng giáo phận lúc 45 tuổi. Ngài hỗ trợ ĐGH Grêgôriô VII trong việc chống lại sự suy thoái của giáo sĩ và tham gia vào việc cách chức tổng giám mục Manasses bê bối.
Ngài muốn sống cô tịch, cầu nguyện, và thuyết phục một số bạn bè cùng ngà sống ẩn tu. Sau một thời gian, ngài rời nơi này vì không thích hợp, qua một người bạn, ngài được tặng ít đất và lập Dòng Chartreuse (do đó mà có tên gọi Carthusians). Khí hậu, hoang mạc, đồi núi và không ai có thể đến, bảo đảm thinh lặng, khó nghèo.
Ngài và các bạn xây một nhà nguyện nhỏ với những phòng cá nhân ở xa nhau. Mỗi ngày gặp nhau đọc kinh sáng và kinh chiều, thời gian còn lại họ sống trong cô tịch, chỉ ăn cùng nhau vào các ngày lễ lớn. Công việc chính của họ là sao chép các bản thảo.
ĐGH nghe tiếng thánh thiện của LM Brunô liền cho mời tới Rôma. Khi ĐGH phải trốn khỏi Rôma, thánh Brunô cũng phải chuyển chỗ, ngài sống những năm cuối đời (sau khi từ chối chức giám mục) ở hoang địa Calabria. Ngài không được phong thánh chính thức, vì Dòng Carthusian phản đối mọi sự công khai. ĐGH Clêmentô cho mừng lễ nhớ ngài từ năm 1674.

Thứ Bảy, 4 tháng 10, 2014

Chúa Nhật XXVII Lễ Đức Mẹ Mân Côi.



Lời Chúa: Này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai.
      Bà Êlisabét có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gabriel đến một thành miền Galilê, gọi là Nadarét,  gặp một trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giuse, thuộc dòng dõi vua Đavít. Trinh nữ ấy tên là Maria.
      Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói : "Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà." Nghe lời ấy, bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì ?.
      Sứ thần liền nói : "Thưa bà Maria, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa. Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đavít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Giacóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận."
       Bà Maria thưa với sứ thần : "Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng ?"
       Sứ thần đáp : "Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. Kìa bà Êlisabét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai : bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng. Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được."

       Bấy giờ bà Maria nói : "Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói." Rồi sứ thần từ biệt ra đi.


SUY NIỆM & CẦU NGUYỆN.
        Bài Tin Mừng hôm nay kết thúc bằng hai tiếng "Xin Vâng" của Đức Mẹ. Hai tiếng "Xin Vâng" thật đơn sơ nhỏ bé, nhưng lại có ảnh hưởng lớn lao. Thiên Chúa muốn có chương trình tốt đẹp cho chúng ta. Nhưng để chương trình ấy thành công, cần phải có sự tham gia, đồng thuận, vâng phục của chúng ta. Chúa muốn  chúng ta được hạnh phúc. Nhưng nếu chúng ta từ chối, Thiên Chúa không thể ban hạnh phúc cho chúng ta. Chương trình đầu tiên của Chúa đã thất bại vì ông bà nguyên tổ không vâng lời Chúa. Ông bà nguyên tổ đã nghe ma quỷ hơn nghe Chúa. Ông bà nguyên tổ đã làm theo ý riêng hơn làm theo ý Chúa. Trái lại Đức Mẹ Maria đã tham gia, đã đồng ý, đã vâng phục, nên chương trình của Thiên Chúa được thực hiện. Kế hoạch cứu độ loài người của Thiên Chúa nhờ hai tiếng "Xin Vâng" của Đức Mẹ Maria mà thành công.
Hai tiếng "Xin Vâng" nghe thật bé nhỏ, khiêm tốn, nhưng ảnh hưởng tới cả cuộc đời Đức Giêsu và Đức Mẹ Maria. Vì vâng lệnh Đức Chúa Cha, Đức Giêsu đã từ trời xuống thế, như lời thánh vịnh: "Máu chiên bò, Chúa không ưng. Của lễ toàn thiêu, Chúa không nhận. Thì này Con đến để làm theo ý Cha". Vì vâng lệnh Đức Chúa Cha, Đức Giêsu đã chấp nhận con đường thập giá, khiêm nhường. Vì vâng lệnh Đức Chúa Cha, Đức Giêsu vui lòng chịu chết, chết nhục nhã trên cây thánh giá: "Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho Con khỏi uống chén này. Nhưng xin đừng theo ý Con, chỉ xin vâng ý Cha mà thôi".
Cũng vậy, khi nói tiếng "Xin Vâng" với thiên thần, Đức Mẹ Maria ràng buộc tất cả cuộc đời mình vào chương trình của Thiên Chúa. Vì xin vâng mà phải sinh con trong hang đá nghèo nàn. Vì xin vâng mà phải chạy trốn chạy sang Ai Cập. Vì xin vâng mà chấp nhận lời tiên tri Simêon: "Một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tim bà". Vì xin vâng mà theo Đức Giêsu trên khắp các nẻo đường truyền giáo. Vì xin vâng mà phải đứng dưới chân thập giá, chịu mọi đau đớn, khổ nhục với con, dường như cùng chết với con vậy.
Khi tạo dựng nên chúng ta, Chúa đã có chương trình cho chúng ta. Đó chính là chương trình tốt đẹp nhất. Nhưng nếu chúng ta không cộng tác, thì chương trình ấy không thực hiện được. Để chương trình của Chúa được thực hiện, chúng ta hãy noi gương Đức Mẹ Maria, nói tiếng "Xin Vâng" với Chúa. Hãy biết bỏ ý riêng để vâng theo ý Chúa. Hãy biết bỏ chương trình riêng của chúng ta để đi vào chương trình của Chúa. Hãy xin vâng khi vui. Hãy xin vâng khi buồn. Hãy xin vâng khi hạnh phúc. Hãy xin vâng khi đau khổ. Hãy noi gương Đức Mẹ Maria, xin vâng trong ngày truyền tin vui tươi, và xin vâng cả khi đứng dưới chân thập giá đau buồn. Xin vâng từng giây phút trong cuộc đời. Khi chương trình của Chúa được thực hiện, chúng ta sẽ được hạnh phúc và đem hạnh phúc cho những người chung quanh chúng ta. Lạy Mẹ Maria, xin dạy chúng con hai tiếng “ Xin Vâng” như Mẹ.  Amen
Nuôi con chẳng quản chi thân
Chỗ ướt mẹ nằm, chỗ ráo con lăn
Con ho lòng mẹ xót xa
Con sốt lòng mẹ như bình nước sôi.


Ngày 05/10-Thánh Faustina, Trinh nữ (1905-1938)
Thánh Maria Faustina mãi mãi gắn liền với lễ kính Lòng Chúa Thương Xót hàng năm (Chúa nhật II Phục sinh), Chuỗi Lòng Chúa Thương Xót và kinh Lòng Chúa Thương Xót được nhiều người đọc hàng ngày lúc 3 giờ chiều trên khắp thế giới.
Chị tên là Helena, sinh ở một nơi mà nay là Trung Tây Ba Lan (một phần thuộc Đức quốc trước thế chiến I), là con thứ 3 trong 10 người con. Lúc 16 tuổi, chị giúp việc nhà cho các gia đình ở 3 thành phố, sau đó mới vào Dòng Tiểu muội Đức Mẹ Nhân từ (Congregation of the Sisters of Our Lady of Mercy) năm 1925. Chị làm bếp, làm vườn và gác cổng ở 3 tu viện của hội dòng.
Chị trung thành làm việc, phục vụ mọi nhu cầu của chị em và dân địa phương, và có đời sống nội tâm sâu sắc. Chị được Chúa Giêsu mặc khải với sứ điệp là ghi lại nhật ký theo yêu cầu của Chúa và linh mục giải tội.
Người ta đã cho chị là người bị tâm thần, nhưng Chúa Giêsu đã chọn chị để trao sứ điệp Lòng Chúa Thương Xót và ơn tha thứ. Có lần Chúa Giêsu đã nói với chị: “Cha không muốn phạt nhân loại, mà chỉ muốn chữa lành, đưa nhân loại vào trái tim thương xót của Cha” (Nhật ký, 1588). Chị nói rằng hai tia sáng phát ra từ Thánh Tâm Chúa Giêsu tượng trưng máu và nước đã đổ ra sau khi Chúa Giêsu tắt thở (x. Ga 19:34).
Vì nữ tu Maria Faustina biết rằng các mặc khải mà chị nhận không cấu thành chính sự thánh thiện, chị viết trong Nhật ký: “Không có ân sủng, không có sự mặc khải, không có sự xuất thần, không có tặng phẩm nào được trao cho một linh hồn để làm cho linh hồn đó hoàn hảo, nhưng là sự kết hiệp mật thiết của linh hồn đó với Thiên Chúa. Các tặng phẩm này chỉ là đồ trang sức của linh hồn, chứ không cấu thành bản chất hoặc sự hoàn hảo. Sự thánh thiện và hoàn hảo của tôi nằm trong sự kết hợp mật thiết ý riêng tôi với Ý Chúa” (Nhật ký, 1107).
Nữ tu Maria Faustina qua đời vì bệnh phổi tại Krakow, Ba Lan, ngày 5-10-1938. Chân phước GH Gioan Phaolô II phong chân phước cho chị năm 1993 và phong thánh cho chị năm 2000.

Thứ Sáu, 3 tháng 10, 2014

Thứ Bảy Tuần XXVI Thường Niên.


Lời Chúa: Hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời.
“ Ha-lê-lui-a. Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã mạc khải mầu nhiệm Nước Trời cho những người bé mọn. Ha-lê-lui-a.”
Con là tôi tớ Ngài xin ban trí thông minh
Để con được am tường thánh ý
Giải thích lời Ngài là đem lại ánh sáng
Cho kẻ đơn sơ thông hiểu am tường

Xin tỏa ánh tôn nhan rạng ngời trên tôi tớ Chúa.


Ngày 04/10-Thánh Phanxicô Assisi (1182-1226)
Thánh Phanxicô Assisi là người sống khó nghèo nhưng đã làm ngạc nhiên và gợi hứng cho Giáo hội bằng cách sống Phúc âm theo đúng nghĩa đen – không theo nghĩa hẹp chính thống, mà thực sự vui vẻ theo đúng những gì chúa nói và làm, không hạn chế và không quan trọng hóa mình một chút xíu nào (mite of self-importance).
Bệnh nặng đã khiến chàng trai Phanxicô thấy khoảng trống trong cuộc đời vui vẻ của mình là người lãnh đạo giới trẻ vùng Assisi. Việc cầu nguyện đã đưa chàng tới việc tự biến mình thành trắng tay như Chúa Kitô, tới đỉnh cao là ôm một người cùi mà chàng gặp trên đường. Đó là biểu hiện sự vâng lời hoàn toàn với những gì ngài nghe thấy khi cầu nguyện: “Phanxicô! Mọi thứ anh yêu và ước muốn về nhục thể chính là anh khinh miệt và ghen ghét, nếu anh muốn biết Ý của Tôi. Khi anh bắt đầu như vậy, mọi thứ hiện nay có vẻ ngọt ngào và đáng yêu với anh sẽ trở nên quá quắt và cay đắng, nhưng những gì anh đã từng tránh né sẽ trở nên rất ngọt ngào và vui mừng”.
Từ cây Thánh Giá ở nhà nguyện San Damiano bị bỏ hoang, Chúa Kitô đã nói với ngài: “Phanxicô nè, hãy ra đi và xây nhà cho Tôi, vì nó sắp sụp đổ rồi”. Và Phanxicô trở thành người hoàn toàn nghèo khó và làm việc khiêm nhường.
Hẳn là ngài đã thắc mắc câu “hãy xây nhà cho Tôi”. Nhưng ngài đã bằng lòng sống “trắng tay” thực sự và đặt viên gạch này lên viên gạch kia ở nhà nguyện bị bỏ hoang. Ngài bỏ mọi sự ngài có để có thể thanh thản cầu nguyện: “Lạy Cha chúng con ở trên trời”.
Một số người bắt đầu nhận thấy người đàn ông này thực sự muốn trở nên Kitô hữu. Ngài thực sự tin điều Chúa Giêsu nói: “Anh em đừng mang gì đi đường, đừng mang gậy, bao bị, lương thực, tiền bạc, cũng đừng có hai áo” (Lc 9:3).
Luật đầu tiên của thánh Phanxicô dành cho những người theo ngài là những lời Phúc âm. Ngài không có ý lập dòng, ngài chỉ muốn bảo vệ và chấp nhận các cấu trúc hợp pháp cần thiết. Lòng trung thành với Giáo hội với ngài là tuyệt đối và gương mẫu khi có nhiều phong trào cải cách có khuynh hướng phá vỡ sự thống nhất của Giáo hội. Ngài muốn đi truyền giáo ở Syria hoặc Phi châu, nhưng vì đắm tàu và bị bệnh. Ngài cố gắng hoán cải vua Ai Cập trong thời Thập tự quân Đệ ngũ (Fifth Crusade). Ngài khiêm nhường không nhận chức linh mục.
Ngài là tác giả 2 bài nổi tiếng là “Kinh Hòa Bình” (Lm Ns Kim Long phổ nhạc) và “Khúc Ca Mặt Trời” (Ns Hùng Lân phổ nhạc). Khi hấp hối, ngài đọc đi đọc lại câu ngài thêm vào “Khúc ca Mặt trời” (Canticle of the Sun): “Hãy ngợi khen Chúa, hỡi Chị Tử thần”. Ngài đọc thánh vịnh 141, và cuối cùng xin bề trên cởi bỏ y phục ngài khi ngài chết để ngài được nghèo khó hoàn toàn, được nên giống Chúa Giêsu trên Thánh Giá.

Thứ Năm, 2 tháng 10, 2014

Thứ Sáu Tuần XXVI Thường Niên.



Lời Chúa: Ai khước từ Thầy là khước từ Dấng đã sai Thầy.
“ Ha-lê-lui-a. Ngày hôm nay, anh em chớ cứng lòng, như hãy nghe tiếng Chúa. Ha-lê-lui-a.”
Tạng phủ con chính Ngài đã cấu tạo
Dệt tấm hình hài trong dạ mẫu thân con
Tạ ơn Chúa đã dựng nên con cách lạ lùng
Công trình Ngài xiết bao kỳ diệu

Lạy Chúa, xin dẫn con theo chính lộ ngàn đời.


Ngày 03/10-Thánh Theodore Guérin, Trinh nữ (1798-1856)
Tin vào Chúa quan phòng đã làm Mẹ Theodore rời bỏ quê hương, đi khắp thế giới và lập dòng. Bà tên là Anne-Thérèse, sinh tại Etables, Pháp quốc, cuộc sống bị đảo lộn vì người cha bị sát hại khi bà mới 15 tuổi. Bà chăm sóc mẹ và em gái trong vài năm, rồi bà vào Dòng Tiểu muội Chúa Quan phòng (Sisters of Providence) năm 1823, lấy tên dòng là thánh Theodore. Khi ở nhà tập, một chứng bệnh đã khiến sức khỏe bà suy yếu suốt đời, nhưng vẫn không thể ngăn cản bước chân bà.
Theo lời mời của ĐGM Vincennes, bà và 5 nữ tu tới Saint Mary-of-the-Woods, Indiana, để dạy học và chăm sóc các bệnh nhân. Bà muốn thành lập nhà mẹ và nhà tập. Sau đó bà biết các bề trên người Pháp đã quyết định các nữ tu ở Hoa Kỳ nên thành lập một dòng mới dưới sự lãnh đạo của bà.
Bà và cộng đoàn kiên trì dù bị hỏa hoạn, mất mùa, thành kiến với nữ tu Công giáo, hiểu lầm và chia cách của dòng tại địa phương. Có lần bà nói với các nữ tu: “Hãy tin vào Chúa quan phòng vì Ngài không để chúng ta thất vọng, dù bây giờ chưa rõ ràng. Hãy kiên trì và tin tưởng”. Một lần khác, bà hỏi: “Có Chúa Giêsu, chúng ta còn sợ gì chứ?”.
Bà qua đời và được an táng tại nhà thờ Mẹ Vô Nhiễm ở Saint Mary-of-the-Woods, Indiana. Bà được phong chân phước năm 1998 và được phong thánh ăm 2006.

Thứ Tư, 1 tháng 10, 2014

Ý Nghĩa Tràng Hạt Hoa Mân Côi






    “Mân Côi” có nghĩa là “hoa hồng” (Rosary). Đức Mẹ đã lấy những đóa hoa hồng trên miệng của một tu sĩ đang đọc kinh Kính Mừng kính Đức Mẹ để kết thành tràng hoa hay triều thiên đội trên đầu.
    Chữ “Mân Côi” có nghĩa là “Triều Thiên Hoa Hồng”, tức là mỗi lần chúng ta đọc Kinh Mân Côi sốt sắng là chúng ta đội triều thiên cho Chúa Giêsu và Mẹ Maria, triều thiên 150, trong đó có 3 bông hồng đỏ và 16 bông hồng trắng, là những bông hoa thiên đường, chúng sẽ không bao giờ tàn phai hương sắc tuyệt vời của chúng.
      Đức Mẹ tỏ ra hoàn toàn ưng ý với cái tên “Mân Côi” này. Người đã cho một số người biết rằng, mỗi lần họ đọc một kinh Kính Mừng là họ dâng cho Người một bông hồng đẹp, và mỗi khi họ đọc xong một tràng Mân Côi là họ làm cho Người một vòng vương miện hoa hồng.
Bởi thế, một tràng Kinh Mân Côi là triều thiên hoa hồng lớn và một chuỗi Kinh Mân Côi là một chùm hoa hay một triều thiên hoa hồng nhỏ mà chúng ta đội lên đầu của Chúa Giêsu và Mẹ Maria. Bông hồng là nữ vương của loài hoa, Kinh Mân Côi là hoa hồng của mọi việc tôn sùng. Do đó, việc tôn sùng là quan trọng nhất.



Các bạn thân mến:
     Chúng ta đang sống tháng Mân Côi Đức Mẹ, Giáo Hội kêu mời toàn thể con cái khắp hoàn cầu đọc Kinh Mân Côi dâng kính Đức Mẹ. Giáo Hội cũng nhắc lại cho chúng ta về sự linh nghiệm của Chuỗi Mân Côi trong đời sống Đức Tin. Chỉ những ai siêng năng lần Chuỗi Mân Côi hằng ngày mới cảm nhận được ơn ích thiêng liêng mà Thiên Chúa đã ban cho con người qua lời kinh đơn sơ này. Chính nhờ Chuỗi Mân Côi các tín hữu dâng kính Mẹ theo lời kêu gọi của Đức Thánh Cha mà Giáo Hội đã thoát khỏi biết bao cơn nguy biến như lịch sử đã minh chứng. Cũng nhờ Chuỗi Mân Côi mà bao tội nhân được giải thoát khỏi ách tội lỗi và quyền lực của ác thần hỏa ngục, bao người lầm lạc được ơn trở về với Chúa và Giáo Hội, bao người vô tín ngưỡng được tiếp nhận ánh sáng Đức Tin Công Giáo, bao người thành tâm thiện chí nhờ siêng năng lần Chuỗi Mân Côi, suy ngắm và sống theo mẫu gương đời sống thánh thiện của Chúa Kitô và Mẹ Thánh Chúa chứa đựng trong các Mầu Nhiệm Kinh Mân Côi mà đạt tới đích thánh thiện theo ơn Chúa kêu gọi.
     Chúng ta hãy nhớ lại lời nhắn nhủ của Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II: “Chuỗi Mân Côi là lời cầu nguyện ưu việt của tôi.” Đây là lời kinh kỳ diệu, kỳ diệu trong sự đơn giản lẫn chiều kích và ý nghĩa thâm sâu. Có thể nói một cách nào đó thì Chuỗi Mân Côi là một lời kinh và chú giải về chương cuối cùng trong hiến chế Mầu Nhiệm Giáo Hội của Công Đồng Vaticanô II. Chương này bàn về sự hiện diện của Mẹ Thiên Chúa trước Mầu Nhiệm Chúa Kitô và Giáo Hội. Với kinh Kính Mừng làm nền tảng của giai đoạn chính trong cuộc đời Chúa Giêsu hiện ra trước mắt linh hồn chúng ta, và đưa chúng ta vào sự thông hiệp sống động với Chúa Giêsu qua Trái Tim Vẹn Sạch của Mẹ Ngài. Đồng thời, trái tim của chúng ta cũng có thể lồng vào những chục kinh Kính Mừng với tất cả những biến cố làm nên cuộc sống cá nhân, gia đình và quốc gia, Giáo Hội và nhân loại, cách riêng những người thân của chúng ta. Như vậy, lời kinh đơn sơ của Chuỗi Mân Côi rung lên những nhịp điệu của cuộc sống con người.





     Người ta kể rằng: Thánh Anphôngsô là vị tông đồ rất nhiệt thành truyền bá lòng sùng kính Mẹ Maria, ngài đặc biệt yêu mến và siêng năng lần hạt Mân Côi hằng ngày, cả những lúc tuổi già sức yếu, nằm liệt trên giường bệnh gần chết, dù lúc còn tỉnh hay lúc mê sảng, ngài vốn không ngừng lần hạt Mân Côi. Có lúc ngài hỏi Thầy giúp bệnh nhân rằng: “Cha đã lần hạt Mân Côi chưa Thầy?” Thầy giúp bệnh nhân trả lời: “Cha đừng sợ, vì Cha đã lần hạt nhiều rồi, Đức Mẹ không bao giờ bỏ Cha đâu!” Nghe thấy câu nói đơn sơ ngây ngô như thế, ngài đã nhấn mạnh khi nói với Thầy: “Con không biết rằng, phần rỗi đời đời của Cha hệ tại việc lần hạt Mân Côi sao?”
     Cũng được cảm hứng bởi Thánh Linh và được hướng dẫn bởi Mẹ Đồng Trinh, cộng với kinh nghiệm bản thân, Thánh Đa Minh đã rao giảng Kinh Mân Côi cho đến hơi thở cuối cùng của ngài. Từ khi nhận cuốn sách mà Đức Mẹ trao cho ngài, ngài đọc cẩn thận và bắt đầu giảng về Kinh Mân Côi và cắt nghĩa từng chữ kinh Kính Mừng như thể giảng dạy cho một đám trẻ con, và dùng những ví dụ rất đơn sơ được chứa đựng trong cuốn sách mà Đức Mẹ đã trao cho ngài. Ngài rao giảng Kinh Mân Côi bằng gương sáng cũng như bằng lời giảng, trong các phố xá cũng như ở các thôn làng, cho cả kẻ sang cũng như người hèn, trước các học giả và cả thành phần thất học, cho người Công Giáo lẫn người lạc đạo. Kinh Mân Côi mà Thánh Đa Minh lần hằng ngày là để dọn từng bài giảng một, và cũng là để nghỉ ngơi tâm sự với Đức Mẹ ngay sau bài giảng.



     Ước gì lời tuyên xưng trên đây của Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, niềm tin tưởng vào phần rỗi đời đời của Thánh Anphongsô và lời rao giảng Kinh Mân Côi bằng gương sáng của Thánh Đa Minh, củng cố niềm xác tín của chúng ta vào ý nghĩa cao cả và sự linh nghiệm của Chuỗi Mân Côi trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta.
     Lạy Mẹ Maria, Nữ Vương Rất Thánh Mân Côi, Mẹ yêu dấu của chúng con, xin Mẹ ban cho chúng con biết siêng năng đọc Kinh Mân Côi hằng ngày, với lòng tin tưởng phó thác nơi Mẹ như những người con ngoan thảo, để trong cuộc hành trình Đức Tin, chúng con thắng vượt được mọi khó khăn thử thách hầu đạt tới đích thánh thiện và ơn cứu độ muôn đời.




Thứ Năm Lễ Nhớ Các thiên thần hộ thủ.



Lời Chúa: Các thiên thần của họ ở trên trời không ngừng chiêm ngưỡng nhan Cha Thầy, Đấng ngự trên trời.
“ Ha-lê-lui-a. Chúc tụng Chúa đi, toàn thể thiên binh hằng hầu cận và tuân hành thánh ý. Ha-lê-lui-a.”
Bạn sẽ không gặp điều ác hại
Và tai ương không bén mảng tời nhà
Bởi chưng Người truyền cho thiên sứ

Giữ gìn bạn trên khắp nẻo đường.


Ngày 02/10 -Thiên thần Bản mệnh
Mỗi người trong chúng ta đều được Chúa ban cho một “vệ sĩ”, đó là Thiên thần Bản mệnh. Nhiệm vụ của các ngài là tiến cử chúng ta với Thiên Chúa, luôn canh giữ chúng ta, giúp chúng ta cầu nguyện và giới thiệu chúng ta với Thiên Chúa khi chúng ta từ giả cõi đời này.
Khái niệm về thiên thần bản mệnh hướng dẫn và nuôi dưỡng mỗi người là cách phát triển của giáo lý Công giáo và lòng sùng kính dựa vào Kinh thánh. Lời Chúa trong Matthêu 18:10 hỗ trợ niềm tin này: “Anh em hãy coi chừng, chớ khinh một ai trong những kẻ bé mọn này; quả thật, Thầy nói cho anh em biết: các thiên thần của họ ở trên trời không ngừng chiêm ngưỡng nhan Cha Thầy, Đấng ngự trên trời”.
Lòng sùng kính các thiên thần bản mệnh bắt đầu phát triển từ khi bắt đầu có truyền thống tu trì. Thánh Bênêđictô thúc đẩy việc này và Bernard Clairvaux, nhà cải cách hồi thế kỷ XII, là người hùng biện về thiên thần bản mệnh, và lòng sùng kính các thiên thần có từ hồi đó.
Lễ kính các thiên thần bản mệnh được cử hành lần đầu hồi thế kỷ XVI. Năm 1615, ĐGH Phaolô V thêm lễ này vào lịch Công giáo La Mã.