Thứ Hai, 20 tháng 6, 2016

Thứ Ba Tuần 12 Thường Niên Mt 7, 6.12-14.

Lời Chúa: Những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta.
Ha-lê-lui-a. Chúa nói: Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi, sẽ nhận được ánh sáng đen lại sự sống. Ha-lê-lui-a.
Cao cả thay Đức Chúa là Thiên Chúa chúng ta,
Đấng thật xứng đáng muôn đời ca tụng
trong thành đô của Người !
Núi thánh Người thật nguy nga hùng vĩ,

là niềm vui cho toàn thể địa cầu.

Ngày 21/06 – Thánh Luy Gonzaga (1568-1591)
Bất kỳ ở đâu Thiên Chúa cũng có thể tạo nên các thánh, thậm chí ngay giữa thời Phục hưng (Renaissance). Florence là người mẹ sùng đạo của Luy Gonzaga dù phải tiếp xúc với một xã hội lọc lừa, hung dữ, độc ác và dâm ô”. Là con một gia đình quý tộc, Luy Gonzaga lớn lên trong cung đình và doanh trại quân đội. Cha ngài muốn ngài trở nên anh hùng quân đội.
Lúc 7 tuổi, ngài đã cảm nghiệm sâu sắc về tâm linh. Ngài cầu nguyện với Đức Mẹ, cầu nguyện bằng thánh vịnh và sống thánh thiện. Lúc 9 tuổi, ngài đếnFlorence để học tập. Lúc 11 tuổi, ngài dạy giáo lý cho trẻ em nghèo, mỗi tuần ăn chay 3 ngày và tập sống khổ hạnh. Lúc 13 tuổi, ngài theo cha mẹ và Nữ hoàng Áo đến Tây Ban Nha, làm gia nhân trong cung đình của Vua Philip II. Càng biết đời sống trong triều, ngài càng hiểu nhiều điều, rồi ngài tìm hiểu đời sống các thánh. Cuốn sách về các nhà truyền giáo ở Ấn Độ giúp ngài muốn gia nhập Dòng Tên tại Tây Ban Nha.
Ngài sống rất khắc khổ dù phải học hành nhiều. Ngài được học triết học và được thánh Robert Bellarmine làm linh hướng. Năm 1591, đại dịch hoành hành Rôma. Các tu sĩ Dòng Tên mở một bệnh viện trong thành phố. Chính ngài cũng bị lây bệnh và qua đời trong tuần bát nhật lễ Mình Máu Thánh Chúa (Corpus Christi) lúc ngài mới 23 tuổi.

Thứ Bảy, 18 tháng 6, 2016

Thứ Hai Tuần 12 Thường Niên Mt 7, 1-5.

Lời Chúa: Lấy cái xà ra khỏi mắt anh trước đã
Ha-lê-lui-a. Lời Thiên Chúa là lời sống động và hữu hiệu, lời đó phê phán tâm tình cũng như tư tưởn của lòng người. Ha-lê-lui-a.
Tâm hồn chúng con trông đợi Chúa,
bời Người luôn che chở phù trì.
Xin đổ tình thương xuống chúng con, lạy Chúa,

như chúng con hằng trông cậy nơi Ngài.

Ngày 20/06 – Thánh Paulinô Nola, Giám mục (354?-431)
Thánh Paulinô Nola là bạn của các thánh Augustinô, Giêrônimô, Melania, Martin, Gregoriô và Ambrôsiô.
Ngài sinh ở gần Bordeaux, là con của quận công Gaul. Ngài là luật sư có tiếng, giữ vài chức vụ trong đế quốc Rôma. Vợ ngài là người Tây Ban Nha, tên là Therasia, ngài nghỉ hưu non và sống thanh thản.
Hai vợ chồng ngài được ĐGM thánh thiện của giáo phận Bordeaux rửa tội và chuyển sang quê vợ ở Tây Ban Nha. Sau nhiều năm họ mới có một con trai nhưng lại chết khi mới được 1 tuần tuổi. Ngài bắt đầu sống khắc khổ và bác ái, phân phát của cải cho người nghèo. Có thể vì vậy mà Paulinô bất ngờ được ĐGM giáo phận Barcelona phong chức linh mục vào dịp lễ Giáng sinh.
Lúc đó ngài và vợ chuyển đến Nola, gần Naples. Ngài rất sùng kính thánh Felix Nola nên cố gắng truyền bá lòng sung kính vị thánh này. Ngài chia đa số phần tài sản còn lại của mình (trước sự ngạc nhiên của những người thân), tiếp tục phục vụ người nghèo và hỗ trợ những con nợ, rồi sống ẩn dật. Vì nhiều người yêu cầu, ngài chấp nhận làm giám mục giáo phận Nola và điều hành giáo phận 21 năm.
Những năm cuối đời ngài sống trong cảnh u buồn vì người Huns xâm lăng. Trong số các tác phẩm của ngài có ca khúc về đám cưới Kitô giáo mà ngày nay còn lưu hành.

Thứ Sáu, 17 tháng 6, 2016

Chúa Nhật XII Thường Niên Năm C

Lời Chúa: Thầy là Đấng Ki-tô của Thiên Chúa. Con Người phải chịu đau khồ nhiều.
      Hôm ấy, Đức Giê-su cầu nguyện một mình. Các môn đệ cũng ở đó với Người, và Người hỏi các ông rằng: "Dân chúng nói Thầy là ai?" Các ông thưa: "Họ bảo Thầy là ông Gio-an Tẩy Giả, nhưng có kẻ thì bảo là ông Ê-li-a, kẻ khác lại cho là một trong các ngôn sứ thời xưa đã sống lại". Người lại hỏi: "Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?" Ông Phê-rô thưa: "Thầy là Đấng Ki-tô của Thiên Chúa". Nhưng Người nghiêm giọng truyền các ông không được nói điều ấy với ai.
      Người bảo rằng: "Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ trỗi dậy".

       Rồi Đức Giê-su nói với mọi người: "Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy.”

SUY NIỆM & CẦU NGUYỆN
        Bài Tin Mừng hôm nay cho chúng ta thấy, có ba góc độ nhận xét về Chúa Giêsu. Một, dân chúng nhận xét Chúa Giêsu là một tiên tri như Gioan Tẩy Giả, hoặc Êlia hay một ngôn sứ nào đó. Hai, là các môn đệ nhận biết về Chúa Giêsu, qua Phêrô đại diện các tông đồ mà thưa: “Thầy là Đấng Kitô của Thiên Chúa.” Mức độ thứ ba, chính là cao điểm của toàn bộ Kinh Thánh và mầu nhiệm cứu độ nơi Thập Giá và Phục Sinh. Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ: “Con người phải chịu nhiều đau khổ, bị các kỳ lão, thượng tế cùng các kinh sư loại bỏ, bị giết chết, và sau ba ngày sẽ sống lại.” Đó mới là sứ mệnh chính yếu của Đức Kitô, tự nguyện chịu đau khổ, chịu chết trên thập giá để cứu chuộc nhân loại chúng ta.
       Lời mời gọi vác thập giá theo Chúa vẫn vang vọng qua dòng lịch sử thời gian, thập giá hằng ngày của người Kitô hữu chúng ta đối diện. Là sự đau khổ của bệnh tật, nỗi cô đơn của tuổi già, những đau khổ do hận thù, ghen ghét, ganh tỵ,  sự cám dỗ hủy hoại sự sống bằng cách phá thai, cổ võ hôn nhân đồng tính vv… Những thập giá này đang đè nặng trên vai mỗi người chúng ta, không thập giá nào nặng hơn hoặc nhẹ hơn thập giá nào. Mà chúng ta cần phải can đảm đón nhận thập giá đời mình với sự mạnh dạn và xác tín rằng, Chúa Giêsu cũng đang đồng hành và vác thập giá cùng với chúng ta.
        Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, chúng con cảm tạ Chúa về Lời Chúa đã giúp chúng con có thể hiểu cặn kẽ hơn Thánh ý của Chúa Cha. Nguyện xin Thánh Thần Chúa soi sáng cho những công việc chúng con đang làm và ban cho chúng con sức mạnh để chúng con có thể thực thi Lời Chúa đã mặc khải cho chúng con, chúng con nguyện xin được noi gương Đức Maria không chỉ lắng nghe mà còn thực hành Lời Chúa hằng ngày trong đời sống của chúng con.  Amen

NGÀY 19 THÁNG 06:THÁNH RÔMUALĐÔ, VIỆN PHỤ (956-1027)
Thánh Rômualdô sinh tại Ravenna năm 956, trong một gia đình danh giá nước Ý. Bá tước Sergiô, cha ngài đã phụng dưỡng ngài trong một nếp sống xa hoa. Rômualdô đã chỉ tìm vui chơi mà không nghĩ gì tới bổn phận phải nên thánh. Dầu vậy, đôi lần đi săn thú, ngài thấy mình đơn độc giữa rừng vắng và phải suy nghĩ... Ngài đặt mình vào một ngày nào đó phải chết và bỗng thấy lo âu. Ngài cũng thấy rằng các ẩn sĩ chọn đời sống cô tịch, hãm mình để hiến thân phụng sự Chúa thật là đúng đắn. Những giấc mơ như vậy thanh luyện hồn ngài và cảm kích bởi ơn thánh, ngài tự hứa với mình là sẽ cải thiện đời sống nhưng rồi trở lại với những thú vui ngày thường ngài lại lùi bước trước nỗ lực và lao mình theo các thị hiếu.
Một biến cố đau thương đã thành phương tiện Thiên Chúa dùng để gỡ Rômualđô khỏi những ràng buộc với thế gian. Sergiô cha ngài gây lộn với một người bà con về việc sở hữu một cánh đồng đã thách đấu kiếm, ông còn bắt con mình dự vào cuộc đấu. Sergiô giết chết đối thủ, coi mình là đồng loã với tội phạm này và thấy phải đền trả. Rômuadô đã vào tu viện để thống hối suốt 40 ngày. Bị đánh động bởi thực tế trái ngược hẳn với lối sống phân tán của thế gian, ngài chỉ còn nghĩ tới việc bắt chước những khắc khổ mà ngài được chứng kiến.
Bá tước Sergiô cảm kích vì mẫu gương của con mình đã vào dòng. Khi bị cám dỗ trở về đường xưa, ông lại dẫn con mình kịp thời can thiệp và tiếp tục trung thành với đời sống đền bồi cầu nguyện.
Sau 7 năm sống trong dòng, Rômuado dấn mình vào sa mạc, sống gần vị ẩn sĩ già là Marinô. Đây là bậc thầy nghiêm ngặt mà ngài đã chọn, Marinô thường lấy roi đánh trên đầu môn đệ của mình để xua đuổi sự chia trí lo ra hay để phạt một lầm lỗi khi đọc thánh vịnh, hay hơn nữa để giúp họ quen chịu khổ. Ông lại hay đánh có một phía. Rômuado không hề phàn nàn kêu trách.
Một ngày kia Ngài nói với thầy: Thưa thầy, từ nay xin thầy đánh về phía mặt vì tai trái con hầu như điếc rồi. Rômuado thầm cảm phục và kính trọng môn đệ mình.
Rômuado nuôi chí hứơng canh tân dòng Biển Đức đang thời sa sút, ngài thiết lập một tu viện. Ngài làm cho các môn đệ nhiệt tình nên hoàn hảo trong việc hãm mình, khi phải chống lại sự dữ và phạt tội lỗi, thánh nhân đã tỏ ra cương nghị, chẳng hạn khi vua Othen III đến tu viện để đền bù tội lường gạt và sát hại một thủ lãnh loạn luân, ông được truyền dạy phải đi chân không tới Nhà thờ Thánh Micae và suốt Mùa Chay, phải ở trong đồng mà ăn chay, ngủ trên rơm cỏ.
Rômuado chống gậy rảo khắp nước Ý sang cả Pháp và Đức. Ngài xây nhiều nhà thờ, thiết lập nhiều tu viện, và các trung tâm ẩn tu trong sa mạc. Ngày kia, ngài tìm được một nơi thanh vắng trong dãy Apennins. Ngài mơ thấy một cái thang bắc lên trời, có các tu sĩ lên xuống. Vị lãnh chúa miền này cho ngài cánh đồng Malđôli. Thánh nhân lập dòng Camaldules sống đời liên lỉ.
Vào tuổi 120, Thánh Rômuado từ trần, ngày 19-06-1076.
Sau 439 năm, xác ngài còn nguyên vẹn và được đặt trong nhà thờ của dòng ở Fabrianô.

Thứ Năm, 16 tháng 6, 2016

Thứ Bảy Tuần 11 Thường Niên Mt 6, 24-34.

Lời Chúa: Anh em đừng lo lắng về ngày mai.
Ha-lê-lui-a. Đức Giê-su Ki-tô vốn giàu sang phú quý, nhưng trở nên nghèo khó, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có. Ha-lê-lui-a.
Xưa Chúa phán: “ Ta đã giao ước với người Ta tuyển chọn,
đã thề cùng Đa-vít, nghĩa bộc Ta,
rằng: dòng dõi ngươi, Ta thiết lập cho đến ngàn đời,

ngai vàng ngươi, Ta xây dựng qua muôn thế hệ.

Ngày 18/06 – Bậc đáng kính Matt Talbot, Thợ xây (1856-1925)
Matt có thể được coi là bổn mạng những người cố gắng bỏ rượu.
Ngài sinh tại Dublin, cha ngài phải lao động cực nhọc để nuôi gia đình. Theo học vài năm, Matt có việc làm là người đưa tin cho các thương gia buôn rượu thuốc. Rồi ngài bắt đầu uống rượu nhiều suốt 15 năm, đến khi 30 tuổi thì ngài đã nghiện rượu nặng.
Một hôm, ngài quyết định xưng tội và đi lễ hàng ngày. Trong 7 năm đầu, từ khi cương quyết bỏ rượu, thật khổ sở vì thèm rượu. Để tránh tái nghiện, ngài bắt đầu cầu nguyện nhiều, cố gắng trả nợ những người mà ngài đã vay hoặc ăn cắp tiền khi còn mê rượu.
Ngài gia nhập Dòng Ba Phanxicô và bắt đầu sống đền tội nghiêm ngặt. Mỗi năm ngài kiêng thịt 9 tháng. Mỗi đêm ngài dùng nhiều thời gian để đọc Kinh thánh và hạnh các thánh. Ngài cũng lần Chuỗi Mân Côi nhiều. Cả đời ngài là thợ xây dựng. Dù công việc ngài làmkhông được nhiều tiền nhưng ngài rất siêng năng cần mẫn. Sau năm 1923, sức khỏe ngài yếu kém nên phải nghỉ làm việc. Ngài qua đời khi đang trên đường tới nhà thờ dự lễ Chúa Ba Ngôi. 50 năm sau, ĐGH Phaolô VI tôn phong ngài là bậc đáng kính.

Thứ Tư, 15 tháng 6, 2016

Ngày 17/06/1802-1862 Thánh Phêrô Đa Thợ Mộc Tử Đạo.

* ĐỨC TIN KIÊN VỮNG

Thánh Phêrô Đa là vị tử đạo cuối cùng trong 117 vị chứng nhân đức tin tại Việt Nam, đã được Giáo Hội tôn vinh. Cái chết của ngài chấm dứt một giai đoạn cam go và khai mạc một giai đoạn thanh bình mới của Giáo Hội Việt Nam, tuy chỉ là một tín hữu tầm thường thiếu học, sinh trưởng trong một gia đình lao động nghèo khó, như lòng dũng cảm và đức tin kiên vững của ông thợ mộc Phêrô Đa, không thua gì các vị mục tử của mình, chấp nhận hy sinh trọn vẹn, kể cả chính mạng sống mình, để giữ lòng trung tín đối với Đức Ki-tô Giê-su.

* ĐỜI SỐNG ĐẠO ĐỨC.
Phêrô Đa sinh năm 1802  trong một gia đình lao động nghèo, tại làng Ngọc Cục xứ Lục Thủy tỉnh Nam Định thuộc địa phận Trung Đàng Ngoài, thân phụ cậu là một Ki-tô hữu, nhưng thân mẫu là người ngoại đạo.Tuy thế, cậu Đa đã được đón nhận bí tích rữa tội ngay từ nhỏ, và được bố cậu giáo dục chu đáo niềm tin Ki-tô. Ông Phêrô Đa theo nghề thợ mộc và đã lập gia đình, ông là một gia trưởng gương mẫu, luôn lưu tâm săn sóc giáo dục con cái và hướng dẫn chúng bằng chính đời sống thánh thiện của mình. Đằng khác ông rất nhiệt tình với việc chung, và nhận làm ông từ phụ trách kéo chuông nhà thờ và dọn đồ lễ tại thánh đường giáo xứ.
Sau chiếu chỉ PHÂN SÁP, ông Phêrô Đa bị bắt, lúc đó ông 60 tuổi và bị giải về Phú Trường với nhiều Ki-tô hữu khác, sau 06 ngày đêm bị giam cầm, ông được giải đến Qua Linh, tại đây  ông chịu nhiều cuộc tra tấn dã man và nhiều khổ hình kinh khiếp, nhưng vị anh hùng luôn bề chí chịu đựng, không than van và nhất định không chịu bước qua Thánh giá, khi biết chắc không thể làm ông khuất phục, quan liền kết án thiêu sống ông và cùng với một số chứng nhân đức tin khác.

* VINH PHÚC NGƯỜI TÔI TRUNG.
Ngày 17 tháng 06 năm 1862 vị tôi tớ trung kiên Phêrô Đa bị dẫn đến nơi xử án. Trên đường đi, ông biểu lộ nét hân hoan vui mừng. Ông bình thản cầu nguyện và phó dâng mọi sự trong bàn tay quan phòng của Chúa, đồng thời ông khuấn nguyện xin Chúa cho mình đủ can đảm chiến thắng cực hình, sau cùng vì danh Thầy Chí Thánh.
Khi ngọn lửa thiêu đốt sắp tàn, quân lính thấy ông dẫn còn sống, liền vung đao chém bay đầu vị tử đạo. Thế là thánh Phêrô Đa, người giáo hữu kiên cường bất khuất, có thể nói đã hy sinh vì chân lý bất diệt đến 02 lần: vừa bị thiêu đốt, vừa bị chém đầu. Thi hài của người tôi trung của Đức Ki-tô được giáo hữu chôn ngay tại pháp trường, năm sau cải táng đưa về quê nhà.
Ngày 29 tháng 04 năm 1951 người thợ mộc làng Ngọc Cục Phêrô Đa, được Đức Thánh Cha Piô XII suy tôn lên bậc chân phước, và ngày 19 tháng 06 năm 1988 Đức Giáo Hoàng Gioan Phao lô II đã suy tôn ngài lên bậc Hiển Thánh.

Thứ Sáu Tuần 11 Thường Niên Mt 6, 19-23.

Lời Chúa: Kho tàng của anh ở đâu, thì lòng anh ở đó.
Ha-lê-lui-a. Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ. Ha-lê-lui-a.
Chúa đã thề cùng vua Đa-vít
Con cái ngươi mà giữ giao ước của Ta
Vì Đức Chúa đã chọn Xi-on

Nơi đây, Ta sẽ cho Đa-vít, rực rở ánh triều thiên.

Ngày 17/06 – Thánh Giuse Cafasso, Linh mục (1811-1860)
Khi còn trẻ, Giuse Cafasso đã thích tham dự thánh lễ, sống khiêm nhường và cầu nguyện nhiều. Sau khi thụ phong linh mục, ngài được bổ nhiệm về chủng viện tại Turin. Tại đây ngài cố gắng chống lại tà thuyết Jansen, vì thuyết này quan tâm thái quá tới tội lỗi và sự nguyền rủa. Ngài dùng các tác phẩm của thánh Phanxicô Salêsiô và thánh Anphongsô Liguori để chấn chỉnh sự nghiêm khắc trong chủng viện.
Ngài giới thiệu các thành viên Dòng Ba Phanxicô với các linh mục. Ngài thúc đẩy lòng sùng kính Thánh Thể và khuyến khích rước lễ hàng ngày. Ngoài nhiệm vụ dạy học, ngài còn là người giảng phòng và giảng thuyết tài ba. Nhiều tù nhân được ngài giúp đỡ và ra đi an bình trong Chúa.
Thánh Gioan Bosco là học trò của thánh Giuse Cafasso. Thánh Giuse Cafasso thúc giục thánh Gioan Bosco thành lập Dòng Salediêng để làm việc với giới trẻ ở Turin. Ngài được phong thánh năm 1947

Thứ Ba, 14 tháng 6, 2016

Ngày 16/06/1862, Anrê Tường Nông Dân, Vinhsơn Tương Chánh Tổng, Đaminh Mạo Nông Dân, Đaminh Nguyên Chánh Trương và Đaminh Nhi Nông Dân Tử Đạo.

Anrê Tường Nông Dân
Có những người vì đức tin bị căn nọc, bị đánh đòn, họ đã từ khước giải thoát ngõ hầu được hưởng sự sống hoàn hảo hơn, có những người chịu thử thách, chịu sĩ nhục, chịu đòn roi, họ còn bị xiềng xích và tù ngục, họ bị ném đá, bị cưa xẻ, bị thiêu đốt, bị hiếp đáp, bị hành hạ … Hết thảy những người đó đã được Thiên Chúa chứng giám nhờ đức tin. Chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi chiếu chỉ PHÂN SÁP, 05 gióa hữu đồng hương này đã đồng lao cộng khổ, để cuối cùng đồng vinh quang trên Nước Trời. Thiên Chúa đã chứng giám cho niềm tin của họ.

Vinhsơn Tương Chánh Tổng
* SỐ PHẬN GẮN BÓ VỚI NHAU.
Dưới thời vua Tự Đức xứ Lục Thủy tỉnh Nam Định thuộc địa phận Trung Đàng Ngoài, có tất cả 13 họ đạo nằm trong 09 làng xã. Do đó, làng Ngọc Cục bao gồm 02 họ đạo: họ Ngọc Cục (Bổn mạng lễ Tuyền Tin) và họ Phú Yên ( Bổn mạng thánh Vinh Sơn)
Ba ông Anrê Tường, Vinh Sơn Tương và Đaminh Nguyễn Đức Mạo. Thuộc họ Phú Yên. Anrê Tường sinh năm 1812 và Vinh Sơn Tương sinh năm 1814 là hai anh em ruột. Thân phụ là ông Đaminh Tiên làm Trùm họ và thân mẫu là bà Maria Gương. Ông Tương tuy thua anh hai tuổi, nhưng đã giữ chức Chánh Tổng. Còn Đaminh Nguyễn Đức Mạo sinh năm 1818, con ông Đaminh Giỏi làm Xã trưởng và bà Maria Nhiên. Khi bị bắt ông được 44 tuổi và làm Hương quản lo an ninh trât tự trong làng.
Hai ông Đaminh Nguyên và Đaminh Nhi thuộc họ Ngọc Cục. Đaminh Nguyên sinh năm 1800, con ông Đaminh Duệ làm Xã trưởng. Khi bị bắt ông đang làm Chánh trương xứ Lục Thủy, con trai ông Đaminh Trình (35 tuổi) cũng bị bắt và tử đạo sau ông một ngày. Còn Đaminh Nhi, người trẻ nhất trong nhóm, sinh năm 1822, con ông Đaminh Vương và bà Catarina Vân.

Đaminh Mạo Nông Dân
Năm ông đều đã lập gia đình, đều là những tín hữu nông gia khá giả và tốt bụng, nên được dân làng rất kính nể và tôn trọng. Riêng Đaminh Nguyên nhờ có nghề thuốc nên có nhiều cơ hội thực thi đức bác ái và ngay cả với những anh em ngoại giáo trong vùng. Không rõ trước khi bị bắt các ông có thân thiết với nhau không, nhưng với một số điểm tương đồng trên, các ông đã là những đối tượng đầu tiên được lưu ý khi chiếu chỉ Phân sáp được áp dụng tại làng Ngọc Cục.
Chiếu chỉ Phân sáp do vua Tự Đức ban hành ngày 05.08.1861 gồm năm nội dung chính : Phân tán các làng Công Giáo; sáp nhập họ vào các làng ngoại giáo, tịch thu tài sản ruộng nương; thích tự hai bên má những người theo đạo; rồi giao cho lương dân qủan thúc. Trong bối cảnh đó, năm ông đã bị bắt ngày 14.09.1861. Quan phủ Xuân Trường ra lệnh ép các ông phải chà đạp Thánh Giá. Nhưng các môn đệ Chúa Kitô đã khẳng khái biểu lộ niềm tin của mình, cương quyêt khước từ hành vi chối đạo, xúc phạm đến Chúa. Thế là quan giận dữ đày các ông sang làng Bạch Cốc, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

Đaminh Nguyên Chánh Trương
 * Tù đày và lời chứng.
Tiếp theo là bảy tháng rưỡi bị giam cầm, cổ mang gông, chân tay bị xiềng xích, bị đánh đòn nhiều lần giã man, nhưng năm vị anh hùng vẫn kiên trung với đạo Thánh Chúa. Cũng theo chiếu chỉ Phân sáp này, quân lính dùng dùi sắt nung đỏ khắc chữ trên mặt các chứng nhân của Chúa, một bên má là chữ "Tả Đạo", bên kia là tên làng xã. Nói sao cho xiết nỗi tủi nhục đau đớn của các ông. Đau vì nhức nhối khủng khiếp và vết phỏng trên mặt lâu ngày mới khỏi, nhục vì phải trình bày cho mọi người thấy dấu hiệu chế diễu khinh mạn niềm tin đạo giáo. Nhưng tất cả các ông nhẫn nại chịu đựng, miễn tấm lòng vẫn trung thành với đức tin chân chính. Để kín múc ơn trợ lực của Thiên Chúa, hàng ngày các ông quây quần bên nhau cầu nguyện, đọc kinh Mân Côi, cùng nhau dâng lên Chúa lời tuyên xưng tuyệt đối của mình vào bàn tay quan phòng, và phó dâng đời mình cho thánh ý ngài. Có thể nói, chính nhờ những lời nguyện sốt sắng phát xuất từ đáy lòng con tim đó, các ông đã tìm được nghị lực và can đảm lướt thắng mọi gian nan thử thách. Ngoài ra, các ông còn gíup nhau sám hối những lỗi lầm, và tự nguyện hãm mình bằng chay tịnh mỗi tuần ba ngày để đón chờ hồng phúc tử đạo.
Trong bức thư đề ngày 02.08.1862, linh mục Estévez Nam đã trình bày cơn sốt bắt đạo tại Nam Định như sau:
"Trong tỉnh Nam Định, người Công Giáo bị đuổi khỏi nhà, quân lính chói từng năm người một, họ chỉ được đem theo mấy nắm gạo đủ ăn chừng hai ngày… Có 300 giáo hữu đang bị giam, Tổng đốc Nguyễn Đình Tân ra lệnh cấm tiếp tế lương thực và chỉ mấy ngày sau, 240 người gục chết, những người còn lại hấp hối chờ chết… Ngày 18.05.1862, ông ra lệnh chém 21 người, ngày 22 chém 43 người, ngày 26 chém 67 người … Ngày 30.05 ông tuyên trói 112 người buông thả sông, rồi hôm sau đến lượt 112 người khác…”

Đaminh Nhi Nông Dân
 "Việc làm của Tổng đốc được các quan phủ huyện noi theo. Người công giáo phải chết hàng trăm, kẻ bị chém, người chịu thiêu sinh trong ngục, hoặc có ai tháo chạy ra ngoài được, cũng bị lý hình cầm gươm dí họ vào lửa cho đến chết. Có lần 150 người bị xử một lúc, lý hình vì không thành thạo, chém đi chém lại chỉ giết được 20 người, số còn lại lính đẩy xuống sông. Nhưng sông lại nhỏ, một số người sống sót lội vào bờ, quân lính tóm bắt, rồi cứ hai người một, buộc vào nhau ném xuống giếng sâu chết cả.”
Riêng với năm chiến sĩ đức tin Anrê Tường, Vinh Sơn Tương, Đaminh Mạo, Đaminh Nguyên và Đaminh Nhi, quan vẫn còn nhân nhượng. Ngày 15.06.1862, một lần nữa, quan yêu cầu các ông chà đạp Thánh Giá, các ông lại từ chối. Quan liền sai lính trói cả năm ông đem ra phơi nắng suốt cả ngày không cho ăn uống.
Sáng hôm sau, quan đổi chiến thuật, lấy lời ngon ngọt dụ dỗ các ông chối đạo. Mặc dù đói khát và mệt lả, ông Đaminh Mạo đại diện cho anh em khẳng khái trả lời : "Sao quan lại dụ dỗ chúng tôi như vậy ? Chắc quan tưởng chúng tôi là con nít khiếp sợ đáu đớn, nên quan khuyên dụ chúng tôi xúc phạm Thiên Chúa ư ? Nếu chà đạp Thánh Giá để khỏi bị bắt và bị đánh đập thì chúng tôi đã làm ngay ở làng quê chúng tôi rồi, dại gì phải trải qua biết bao cực khổ nơi đây. Bây giờ quan cứ làm theo ý quan, chúng tôi không bao giờ bỏ đạo đâu".

* Đón phúc vinh quang.
Tức giận trước những lời trên, quan truyền lệnh xử tử ngay tức khắc năm vị tôi tớ kiên trung của Chúa. Quân lính điệu các ông ra pháp trường Bạch Cốc, tỉnh Nam Định. Các chứng nhân đức tin vui mừng phó thác linh hồn trong tay Chúa, cầu xin ngài ban cho đủ sức mạnh chiến thắng cơn thử thách cuối cùng. Quả thật các ông đã tỏ ra can đảm phi thường. Ngoài ông Đaminh Nhi, cả bốn vị kia đều yêu cầu lý hình, thay vì chém đầu một nhát thì xin họ chém ba nhát để các ông tỏ lòng kính Chúa Ba Ngôi.
Hôm đó là ngày 16.06.1862. Thi thể năm vị anh hùng tử đạo được gia đình và các bạn hữu chôn ngay tại pháp trường, năm sau thì cải táng về nhà thờ họ quê làng.

Ngày 29.04.1951, Đức Piô XII đã long trọng suy tôn năm vị tử đạo Anrê Tường, Vinh Sơn Tương, Đaminh Nguyễn Đức Mạo, Đaminh Nguyên và Đaminh Nhi lên bậc Chân Phước. Ngày 19-06-1988, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II suy tôn các ngài lên hàng Hiển thánh.