Chủ Nhật, 22 tháng 11, 2015

Thứ Ba Các Thánh Tử đạo Việt Nam Bổn Mạng Hội Thánh Việt Nam Lệ trọng Lc 9,23-26.

Lời Chúa: Ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy.
Ha-lê-lui-a. Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ. Ha-lê-lui-a.
Lạy Chúa, xin dẫn tù nhân chúng con về,
như mưa dẫn nước về suối cạn miền nam.
Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống,

mùa gặt mai sao khấp khởi mừng.

Ngày 24/11 – Các thánh tử đạo Việt Nam.
Thánh Anrê Phú Yên là một trong hàng trăm ngàn vị tử đạo Việt Nam trong những năm từ 1820 tới 1862. Có 117 vị được phong chân phước vào 4 dịp trong những năm từ 1900 tới 1951. Và chân phước GH Gioan Phaolô II đã tôn phong 117 vị này lên bậc hiển thánh.
Công giáo đã đến Việt Nam qua người Bồ Đào Nha, lúc đó còn tách là Đàng trong và Đàng ngoài). Các linh mục Dòng Tên đã lập Hội truyền giáo đầu tiên tại Đà Nẵng năm 1615. các vị tử đạo đã bị nhà vua bắt, bội giáo bằng cách đạp lên Thánh giá, nhưng tất cả đều son sắt niềm tin, không tham sống mà chối bỏ Chúa.
Có 3 đợt bách hại dữ dội hồi thế kỷ XIX. Trong 60 năm kể từ năm 1820, có khoảng từ 100.000 tới 300.000 người Công giáo bị giết hoặc chịu đau khổ. Các nhà truyền giáo ngoại quốc tử đạo trong đợt đầu gồm các linh mục thuộc Hội Truyền giáo Paris (Paris Mission Society), các linh mục Dòng Đa Minh Tây Ban Nha và các thành viên Dòng Ba Đa Minh. Năm 1847, cuộc bách hại lại nổ ra khi nhà vua nghi ngờ các nhà truyền giáo ngoại quốc và các tín hữu Việt Nam muốn nổi loạn.
Các vị tử đạo cuối cùng là 17 giáo dân, có một vị mới 9 tuổi, bị hành quyết năm 1862. Cũng chính năm này có hiệp ước tự do tôn giáo giữa Pháp quốc và Việt Nam, nhưng vẫn chưa hết bách hại. Năm 1954, có hơn 1.500.000 người Công giáo miền Bắc – chiếm 7% dân số hồi đó. Phật giáo chiếm khoảng 60%. Cuộc bách hại dai dẳng khiến 670.000 người Công giáo phải rời bỏ quê hương xứ sở để vào miền Nam. Năm 1964, miền Bắc vẫn còn 833.000 người Công giáo nhưng nhiều người phải bị tù đày. Tại miền Nam, người Công giáo được tự do tôn giáo trong những thập niên đầu của những thế kỷ qua, họ sống như những người tỵ nạn. Trong thời chiến tranh Việt Nam, người Công giáo lại bị bách hại ở miền Bắc và lại phải chuyển vào miền Nam rất đông.

Thứ Bảy, 21 tháng 11, 2015

Ngày 23/11 -Thánh CLÊMENTÊ I Giáo Hoàng Tử Đạo

Thánh CLÊMENTÊ I Giáo Hoàng Tử Đạo
Người ta biết được về thánh Clêmentê, vị giáo hoàng trị vì trong 10 năm chỉ nhờ bức "thư gởi giáo hữu Côrintô" thôi. Vào thế kỷ thứ IV có lưu hành những chứng thư đầy huyền thoại. Theo đó, cha Ngài là Phaustin thuộc dòng dõi Giacop. Sinh tại Roma, được nuôi dưỡng trong Do thái giáo.
Thánh Clêmentê đã nghe theo những diễn từ của các thánh tông đồ và trở thành môn đệ các Ngài. Ngài đã theo thánh Phaolô trong các hành trình đi truyền giáo và đã trở thành đấng kế vị thứ ba của thánh Phêrô. Vua Trajanô đang bách hại các Kitô hữu biết được rằng: vị giáo hoàng đã đem được nhiều người trở lại đạo. Ông kết án Ngài phải làm việc khổ sai tại các hầm mỏ bên kia Bắc Hải, trong các miền hoang vắng. Hai ngàn Kitô hữu đẽo đá tại đây chịu cảnh khát nước thảm khốc.
Tương truyền rằng thánh Clêmentê cầu nguyện rồi lên một ngọn đồi và thấy một con chiên ghi dấu chân đúng vào chỗ có dòng nước tươi mát vọt lên làm giảm khát cho người mang án. Các bức tranh cẩn đâu tiền còn diễn lại biểu tượng một con chiên đứng trên ngọn núi xanh. Nhà vua khi biết được rằng thánh Clêmentê đã dùng lời nói và phép lạ để an ủi các Kitô hữu, liền sai các sứ giả tới cột cổ Ngài vào một cái neo rồi ném xuống biển. Lệnh đường thi hành. Nhưng trong khi các tín hữu cầu nguyện trên bờ, họ thấy dòng nước rút đi một cách lạ lùng và có thể đưa xác vị tử đạo lên đất liền.
Điều chắc chắn kính là bức thư của thánh Clêmentê đã thành một trong các tài liệu quí giá của Kitô giáo thời Chúa xưa. Các Kitô hữu Côrintô chạy đến Đức giáo hoàng để tìm hoà giải những cuộc tranh chấp, đã kính cẩn đón tiếp thư của Ngài. Những thư này được đọc cho các cộng đoàn tín hữu. Thư của thánh Clêmentê chứng thực việc thánh Phêrô đến và chịu chết ở Roma, việc Nêrô bắt các Kitô hữu làm trò mua vui. Thư cũng gợi ý cho chúng ta việc tổ chức Giáo hội. Giữa các sự việc lớn lao khác, thánh Clêmentê đã nói: "Ai mạnh hãy lo cho người yếu. Người giầu hãy giúp đỡ người nghèo và người nghèo hãy chúc tụng Chúa và điều Ngài muốn cung ứng cho các nhu cầu của họ. Người khôn ngoan hãy tỏ ra khôn ngoan không phải chỉ trong lời nói mà còn trong các việc lành. Người khiêm tốn đùng nói gì về mình và đừng tìm phô diễn hành động của mình. Người lớn không thể tồn tại mà không có người nhỏ và người nhỏ cũng không thể tồn tại mà không có người lớn... Thân thể không thể bỏ qua sự phục vụ của những chi thể nhỏ bé hơn.

Các tín hữu còn học biết bằng qua những âu lo vô ích và sống đời sám hối, mỗi người phải biết vâng phục để trở nên tôi tớ hoàn tất vinh quang Thiên Chúa. Đức Kitô đã không đến trong kiêu sa, nhưng đã tự hạ, đã chịu khổ cực. Vậy phải nên thánh và tín thác cho Chúa.

Thánh côlumbanô viện phụ

Ngày 23/11- Thánh côlumbanô viện phụ
Thánh Côlumbanô sinh năm 540 tại Ái-nhĩ-lan, trong thời kỳ các dòng tu ở đây đang thịnh hành phát triển.
Lớn lên, thánh nhân được cha mẹ gởi ở đan viện Băng-gô, để học hành và đào luyện tánh nết cũng như đạo đức. Ngài có trí thông minh đặc biệt, học hành giỏi giắn, lại có lòng mến mộ nhân đức, nên đã xin gia nhập đan viện. Mẹ ngài hết sức ngăn cản, nhưng ngài vẫn cương quyết vâng theo tiếng Chúa gọi.
Ở tu viện, hằng ngày thánh nhân lo trau dồi thêm kiến thức, nhất là học hỏi Thánh Kinh thần học, tập luyện sống khổ hạnh và thực hành đức mến Chúa yêu người, dưới sự hướng dẫn của thánh Com-gan.
Xong thời gian học tập, thánh nhân được bề trên giao cho dạy học trong dòng. Và năm 590, ngài được sai đi truyền giáo và thành lập tu viện tại xứ Gôn (nước Pháp), với một nhóm tu sĩ của dòng.
Suốt hơn 10 năm ở đây, thánh nhân sống khắc khổ, rày đây mai đó, rao giảng Tin mừng cứu rỗi cho mọi người, đồng thời giúp đỡ những người nghèo khổ bệnh tật. Dân chúng thấy ngài tận tụy, hy sinh vì họ thì đem lòng thương mến và xin gia nhập đạo đông đảo. Trong số nầy có nhiều người muốn theo làm môn đệ Ngài.
Ngoài ra việc giảng đạo, thánh nhân còn thành lập nhiều đan viện, số người gia nhập ngày càng đông. Họ sống hy sinh khắc khổ, chuyên cần cầu nguyện và làm việc để sinh sống, và nếu có dư ra thì bố thí cho kẻ nghèo. Đan viện nổi tiếng nhất của ngài là đan viện ở Lút-xơi. Đây là nơi phát xuất ra nhiều nhà truyền giáo lỗi lạc, nhiều vị tông đồ đắc lực.
Thánh nhân thường xuyên huấn luyện các tu sĩ về đàng nhân đức: đây là mối bận tâm lớn nhất của ngài. Trong một bài huấn đức, ngài nói:
“Trong sách luật, Mô-sê đã viết: Thiên Chúa đã dựng nên con người giống hình ảnh Người. Xin hãy cùng tôi tìm hiểu ý nghĩa cao cả của câu sách ấy. Thiên Chúa toàn năng, vô hình, khôn thấu, khôn tả, khôn ví. Khi nhào nặn con người từ bùn đất, đã làm cho ta trở nên cao cả bằng cách ban cho họ được vinh dự, được giống hình ảnh Người. Con người là gì sánh với Thiên Chúa? Bùn đất là gì sánh với thần khí. Bởi lẽ, Thiên Chúa là thần khí, thế nên việc Thiên Chúa ban tặng cho con người hình ảnh vĩnh cửu và sự sống giống như ngài, là một “việc tôn vinh” kỳ diệu. Được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa là một vinh dự lớn lao cho con người, nếu hình ảnh đó được bảo toàn”.
“Quả vậy, bao lâu con người biết sử dụng tốt các khả năng đã được gieo sẵn trong tâm hồn mình, thì họ giống như Thiên Chúa. Những khả năng nào Thiên Chúa đã gieo trong con người nguyên thủy của ta, thì Người dạy ta phải sống trả lại Người tất cả. Trước nhất, Người dạy ta: hãy yêu mến Chúa hết lòng vì chính Người đã yêu thương ta trước, ngay từ đầu, trước cả khi ta hiện hữu, yêu mến Thiên Chúa tức là canh tân hình ảnh Người ở nơi ta. Mà yêu mến Thiên Chúa là tuân giữ các lệnh truyền của Người, vì Người đã phán: “Nếu các con yêu mến Ta, các con hãy tuân giữ các lệnh truyền của Ta. Điều Ngài truyền chính là tình bác ái huynh đệ: Nầy là lệnh truyền của Ta, hãy yêu thương nhau như Ta đã yêu thương các con”.
Giữa lúc đó, vua nước Buộc-gôn sống phóng đãng ngoại tình. Thánh nhân thấy vậy thì khuyến cáo ông ta. Nhưng thay vì nghe lời khuyên của thánh nhân, ông ta nổi giận, trục xuất ngài ra khỏi tu viện, và cấm không cho ai chứa ngài. Buộc lòng ngài phải sang trú ngụ nước Ý và qua đời tại đây ngày 23 tháng 11 năm 615.

Thứ Hai Tuần 34 Thường Niên Lc 21,1-4.

Lời Chúa: Đức Giê-su thấy một bà góa túng thiếu bỏ vào thùng tiền hai đồng tiền kẽm.
Ha-lê-lui-a. Anh em hãy canh thức và hãy sẵn sàng, và chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến. Ha-lê-lui-a.
Chúc tụng Chúa trong thánh điện vinh quang,
chúc tụng Chúa trên ngôi báu cửu trùng.
Chúc tụng Chúa, Đấng ngự trên các thần hộ giá
mà thấu nhìn vực thẳm,
chúc tụng Chúa trên vòm trời tận chốn cao xanh.

Xin dâng lời khen ngợi suy tôn muôn đời.

Ngày 23/11 – Chân phước Miguel Agustín Pro, Linh mục Tử đạo (1891-1927)   
Đối với chân phước Micae Pro (Miguel Agustín Pro), mọi sự trên đời này đều có thể là chuyện đùa được. Một lần bị công an rượt bắt, đến chỗ quẹo, ngài bá vai một cô gái và nói nhỏ: “Cha bị công an rượt.” Khi thấy vậy, họ tưởng là một cặp tình nhân, nên chẳng thèm để ý gì, chỉ cố đuổi bắt cho được ông linh mục! Dầu vậy, ngài không cho phép ai coi việc gì liên hệ đến Chúa là chuyện đùa. Chính vì thế, ngài bị chính quyền Mêhicô thời đó kết án.
Chân phước Micae Pro sinh năm 1891 tại thị trấn Zacatecas, miền trung nước Mêhicô, trong một gia đình khá giả và đạo đức. Lúc nhỏ, ngài là một chú bé hiếu động và tinh nghịch. Năm 20 tuổi, ngài được nhận vào Dòng Tên tại tập viện El Llano. Sau 4 năm sống yên lành, ngài cùng với cả cộng đoàn phải chạy trốn sáng Hoa Kỳ, ở nhà tập Los Gatos ở bang California, để tránh đoàn quân hung hãn của chính quyền Carranza thù ghét Hội Thánh. Năm 25 tuổi, ngài được gửi đi học triết lý tại Granada nước Nicaragua. Năm 31 tuổi, ngài được gửi học thần học tại Barcelona ở Tây Ban Nha, rồi tại Enghien ở Bỉ. Tại đây ngài thụ phong linh mục lúc 34 tuổi. Năm sau ngài được gọi về Mêhicô để hoạt động tông đồ.
Ngài chỉ hoạt động tông đồ được hơn một năm, tất cả tập trung tại Mêhicô. Thời đó, chính quyền Mêhicô đề ra những biện pháp gay gắt đối với tôn giáo: luật năm 1926 giải tán tất cả các dòng tu, đóng cửa các trường học công giáo, mỗi tín hữu có thể đến cầu nguyện riêng ở nhà thờ, nhưng không được đọc kinh chung hay dâng lễ, dù là ở tư gia. Không thể đùa với những việc thiêng liêng như vậy được: 90% dân Mêhicô là người công giáo. Một mặt cha Pro tham gia Hội Liên Hiệp Bảo Vệ Tự Do Tín Ngưỡng để đòi chính quyền tôn trọng tự do sinh hoạt tôn giáo của nhân dân. Mặt khác, ngài thay hình đổi dạng để có thể đi đây đi đó để giải tội, dâng lễ, hướng dẫn tĩnh tâm. Ngài đặc biệt giúp các gia đình nghi thức tôn vương: nhận Chúa Ki-tô là vua để yêu mến, tôn kính và tuân phục. Có lần ngài đang chuẩn bị dâng lễ tại một tư gia thì công an đến. Họ hỏi: “Ở đây sắp có lễ, phải không? Ngài trả lời thật bình tĩnh: “Nếu ở đâu có lễ, xin cho tôi biết với. Tôi là người công giáo, rất mong được dự lễ.” Nhiều lần ngài thoát tay công an trong đường tơ kẽ tóc như vậy.

Một hôm có người trong hàng lãnh đạo chính quyền Mêhicô bị ám sát. Công an bắt ngài cùng với mấy thành viên khác của Hội Liên Hiệp Bảo Vệ Tự Do Tín Ngưỡng. Không hề bị xét xử, họ đem ngài và các bạn ra xử bắn ngày 23 tháng 11 năm 1927 tại thủ đô Mêhicô. Trước khi thụ hình, ngài xin quỳ gối cầu nguyện ít phút, rồi đứng lên dang tay theo hình thánh giá và hô lớn: “Vạn tuế Chúa Ki-tô vua.” Mọi người quen biết đều nhìn nhận ngài là một tu sĩ đạo đức và là một linh mục nhiệt thành, đồng thời kể không biết bao nhiêu chuyện đùa dai của ngài. Mặc dù kết cuộc đời ngài có vẻ bi đát, nhưng nhất định ngài không phải là một vị thánh buồn. Ngài được Đức Thánh Cha Phaolô II tuyên chân phước năm 1988.

Chúa Nhật XXXIV Thường Niên Năm B

Lời Chúa: Chính ngài nói tôi là vua.

      Khi ấy, quan Phi-la-tô nói với Đức Giê-su rằng: “Ông có phải là vua dân Do-thái không?" Đức Giê-su đáp: "Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về tôi?" Ông Phi-la-tô trả lời: "Tôi là người Do-thái sao? Chính dân của ông và các thượng tế đã nộp ông cho tôi. Ông đã làm gì?" Đức Giê-su trả lời: "Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do-thái. Nhưng nay Nước tôi không thuộc chốn này." Ông Phi-la-tô liền hỏi: "Vậy ông là vua sao?" Đức Giê-su đáp : "Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian vì điều này: đó là để làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi.”

SUY NIỆM & CẦU NGUYỆN
     Bài Tin Mừng theo thánh Gioan hôm nay cho chúng ta thấy rõ, những tâm tư, tình cảm và suy gẫm đề tài về một Vị Vua, danh nghĩa là Vua nhưng hoàn toàn khác với các vua trần gian. Một Vị Vua cai quản trên trời dưới đất nhưng là một Vị Vua khiêm nhường, hiền từ đầy lòng thương xót, Ngài khác hơn các vua ở trần gian là không có quân đội, không có thống trị bằng bạo lực và không có đóng thuế và Ngài còn là một vị Vua nhân ái cưỡi trên mình lừa con hiền từ đi vào thành Giêrusalem để chịu chết như một con chiên ngoan hiền để cho người ta bắt đi làm thịt, và để thực hiện chương trình cứu độ nhân trần theo ý muốn của Chúa Cha. Chúa Giêsu là Vua, là Vua Vũ Trụ, Vua thiêng liêng và Vương Quốc của Ngài không thuộc về thế gian này.
    Bởi vì, dân chúng khi được chứng kiến các phép lạ Chúa làm. Đặc biệt là phép hóa bánh và cá ra nhiều để nuôi sống nhiều ngàn người ăn, sau đó dân chúng đã tìm Chúa với ý định tôn Ngài lên làm Vua theo ý riêng của họ. Còn chúng ta suy nghĩ Chúa  như thế nào ? Vâng, Ngài đã hy sinh cả cuộc đời trần gian và ba năm để đi rao giảng Phúc Âm tình thương và con đường chân lý cho mỗi người chúng ta, và quy tụ chúng ta về trong Nước Chúa.chúng ta hãy dành nhiều thời giờ để cầu nguyện, để tĩnh tâm và dâng Thánh Lễ  mỗi ngày, để chúng ta có thể giữ vững Đức Tin nơi Chúa là Cha yêu thương, là Đấng đã tạo dựng nên vũ trụ hoàn cầu và cả con người chúng ta nữa và đã chết để cứu độ muôn người.
     Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, xin giúp chúng con biết noi gương Chúa là Vua của sự thật và xin cho chúng con biết yêu sự thật và nói sự thật để mưu cầu lợi ích cho tha nhân. Xin cho chúng con tránh những lời dối trá lọc lừa trong giao tiếp xã hội, xin cho chúng con tránh thái độ đạo đức giả hình của các người Pha-ri-sêu và kinh sư ngày xưa. Xin Chúa thánh hóa chúng con luôn trung thực trong lời nói việc làm, để xứng đáng là con dân của Vua Giêsu Ki-tô.  Amen

Ngày 22/11 – Thánh Cecilia, Trinh nữ Tử đạo (thế kỷ III)
Dù thánh Cecilia là một trong các vị tử đạo nổi tiếng của Rôma, nhưng các câu chuyện về bà vẫn không được kể lại chính xác. Thời kỳ đầu không thấy dấu hiêu nào cho thấy bà được tôn kính. Một câu được khắc hồi cuối thế kỷ IV nói đến một nhà thờ mang tên bà, và lễ mừng kính bà có từ năm 545.
Theo truyền thuyết, Cecilia là Kitô hữu thuộc dòng dõi quý tộc đính hôn với một người Rôma tên là Valerian. Nhờ ảnh hưởng từ bà, Valerian đã trở lại đạo và chịu tử đạo với người anh em của ông. Truyền thuyết về cái chết của thánh Cecilia nói rằng sau khi bị chém vào cổ 3 lần, bà vẫn sống thêm 3 ngày, và bà xin Đức giáo hoàng lấy nhà của bà làm nhà thờ. Từ thời Cải cách, bà thường được vẽ chân dung với cây đàn viola hoặc đàn organ.

Thứ Năm, 19 tháng 11, 2015

Thứ Bảy Đức Mẹ Dâng Mình Trong Đền Thờ Lễ nhớ Mt 12,46-50.

Lời Chúa: Đức Giê-su giơ tay chỉ các môn đệ mà nói: Đây là mẹ tôi, đây là anh em tôi.
Ha-lê-lui-a. Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa. Ha-lê-lui-a.
Linh hồn tôi ngợi khen Ðức Chúa,
Thần trí tôi hớn hở vui mừng
Vì Thiên Chúa, Ðấng cứu độ tôi.
Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới;
Từ nay hết mọi đời, sẽ khen tôi diễm phúc.
Ðấng toàn năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả.
Danh Người thật chí thánh chí tôn!
Ðời nọ tới đời kia,
Chúa hằng thương xót những ai kính sợ người
Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh,
Dẹp tan phường lòng trí kiêu căng.
Chúa hạ bệ những ai quyền thế,
Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường.
Kẻ đói nghèo, Chúa ban của đầy dư,
Người giàu có, lại đuổi về tay trắng.
Chúa độ trì, Ít-ra-en, tôi tớ của Người,
Như đã hứa cùng cha ông chúng ta.
Vì Người nhớ lại lòng thương xót
Dành cho tổ phụ Áp-ra-ham

Và cho con cháu đến muôn đời...

Ngày 21/11 – Đức Mẹ dâng mình
Lễ Đức Mẹ dâng mình trong Đền thờ bắt nguồn từ bên Giáo Hội Đông phương, tưởng niệm ngày thánh hiến thánh đường Đức Maria ngày 21 tháng 11 năm 543 tại Giêrusalem. Đông phương coi biến cố thánh hiến này như cuộc đi vô “ Đền thờ của Đức Rất Thánh Mẹ Thiên Chúa”. Họ mừng lễ trong vòng sáu ngày từ ngày 20 đến ngày 25 tháng 11, và dựa vào Ngụy thư Tiền Tin Mừng theo thánh Giacôbê được soạn vào giữa thế kỷ thứ II. Trong đó, tác giả kể lại câu chuyện Đức Trinh nữ lúc còn nhỏ đã được dâng hiến vào Đền thờ và ở lại đó cho đến 12 tuổi : “Thầy tư tế đón tiếp con trẻ và chúc phúc như sau : Thiên Chúa đã chúc tụng danh của con trong mọi thế hệ... Thiên Chúa ban cho con trẻ ân sủng của Người, và nó nhảy mừng, và mọi người trong nhà Ítraen yêu mến con trẻ...”.
Lễ này được cử hành bên Tây phương từ thế kỷ thứ IX tại các đan viện bên Ý, rồi sau đó lan tràn tới bên Anh. Vào năm 1373, Đức Giáo Hoàng Grégoire XI sống tại thành Avignon (Pháp) bắt đầu cho cử hành lễ Đức Mẹ dâng mình trong Đền thờ. Đây cũng là do công lao của một hiệp sĩ, Philippe de Mézièrès, sau thời gian sống bên Đông phương đã về phổ biến lễ này bên Tây phương với hy vọng tìm nối kết lại với anh em Hy lạp và Đức Giáo Hoàng Sixte IV ghi vào lịch phụng vụ vào năm 1472.

Thứ Tư, 18 tháng 11, 2015

Ngày 20-11-1803-1837 Thánh Phanxicô Nguyễn Cần Thầy giảng Tử đạo.

Phanxicô Xaviê Cần, Sinh năm 1803 tại Sơn Miêng, Hà Ðông, Thầy giảng, bị xử giảo ngày 20 tháng 11 năm 1837 tại Ô Cầu Giấy dưới đời vua Minh Mạng, Đức Lêo XIII suy tôn thầy Nguyễn Cần lên bậc Chân Phước ngày 27.05.1900. Ngày 19-06-1988. Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh. Lễ kính vào ngày 20/11.
* Tôi trung không thờ hai chủ.

"Tôi trung không thờ hai chủ" lời cuối cùng phát ra từ miệng thánh Phanxicô Nguyễn Cần tóm tắt cuộc đời của thầy, một người tôi trung, đã suốt đời trung thành với Chúa, phục vụ tha nhân, sống trung thực với suy nghĩ của mình, trung tín với giáo lý Tin Mừng và cuối cùng đã trung kiên vượt qua mọi thử thách, xứng đáng nhận lời chúc phúc "hãy vào hưởng niềm hoan lạc của Chúa trên trời". (Mt. 25,21).

* Chí Con đã quyết.
Phanxicô Nguyễn Cần còn có tên Nguyễn Tiên tức Tiên Truật, sinh năm 1803, tại làng Sơn Miệng, huyện Phú Xuyên, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông, Hà Nội. Từ niên thiếu, cậu Cần đã ước ao dâng mình trong nhà Chúa, nhưng mẹ cậu vì thương nhớ, không muốn xa con nên từ chối. Cậu phải nói với mẹ: "Nếu mẹ không bằng lòng con ở với cha xứ nhà, con sẽ trốn đi, ở với cha xứ khác". Thế là bà mẹ cũng phải chiều ý, cho cậu ở với cha Nghi, chánh xứ Sơn Miêng.
Nhờ đức hạnh tốt và siêng năng, cậu được vào chủng viện, trở thành thầy giảng, được cử đi giúp Đức cha Havard Du, rồi cha Retord Liêu (năm 1838 lên chức Giám mục, gọi là Đức Thầy Liêu). Cha Liêu đã nhận xét về thầy Cần: "Thầy giúp tôi học tiếng Việt, chia sẻ với tôi mọi khó khăn, hiểm nguy, thiếu thốn. Thầy rất nhiệt tâm trong việc tông đồ".
Ngày 19.04.1836, cha Liêu nhờ thầy đi mời cha Tuấn về xứ Kẻ Chuông giảng, chuẩn bị lễ Phục Sinh. Nhưng khi thầy đến xứ Kẻ Vạc, nơi cha Tuấn ở thì bị bắt. Quân lính dấu ảnh tượng vào túi xách của thầy đê có chứng cớ cụ thể. Thầy bị giải về huyện Thanh Oai và bị tống giam vào ngục.
Trước công đường, quan nói thầy đừng tin vào các đạo trưởng, và hãy đạp lên ảnh đạo, quan sẽ tha cho về nuôi mẹ già. Thầy trả lời : "Thưa quan, tôi chưa thấy các đạo trưởng lừa dối ai bao giờ, còn mẹ già tôi không lo, tôi xa nhà đã lâu chẳng giúp gì cho bà". Sau đó quan dùng nhiều lời khiếm nhã phê bình về đạo, thầy bình tĩnh giải thích lại rỗi trình bày về 10 điều răn Thiên Chúa và sáu điều răn Hội Thánh, thầy kết thúc bằng một lời tự nguyện, tự phát rất cảm động. Mọi người ở đó đều cản phục. Quan tuyên bố kết thức phiên tòa, đưa thầy về trại giam. Nhưng quan nói nhỏ với những người đứng bên : "Anh này nói cũng có lý. Những giới răn và kinh nguyện của anh ta chứa đựng nhiều điều tốt lành, có lẽ còn dễ hiểu hơn bản "thập điều" của nhà vua nữa".
* Một dạ sắt son.
Phần cha Liêu ở nhà rất buồn, cha tìm mọi cách cứu mạng cho thầy Cần. Cha cho người đem tiền theo thân mẫu thầy lên huyện để chuộc. Mới đầu quan đòi 300 quan, sau tăng lên 500, rồi 600, vượt qua con số dự trù, có lẽ vị quan đó không dám cho chuộc thì đúng hơn. Thầy Cần an ủi mẹ: "Xin mẹ đừng lo cho con, con đã ước ao tử đạo từ lâu, xin mẹ chỉ cầu nguyện cho con là đủ".
Có nhiều người tỏ lòng thương hại thầy Cần. Quan khuyên thầy bước qua Thập Giá, thầy cương quyết từ chối. lính khiêng thầy bước dẫm lên tượng ảnh Chúa, tay thầy ôm chặt lấy chân và la lên: "Tôi không đạp lên ảnh Chúa đâu". Một số giáo dân đã bỏ đạo nói: "Tội nào Chúa chẳng tha, Phêrô chối Chúa ba lần mà còn làm thủ lãnh Giáo Hội". Người khác lừa dối: "Cha Liêu nhắn thầy cứ bước qua Thánh Giá, rồi sẽ về liệu sau". Họ còn đe dọa: "Nếu thầy không nghe, quan sẽ làm khổ cả làng đó". Nhưng tất cả không làm xoay chuyển ý chi sắt đá của vị chứng nhân đức Kitô.
Thầy quả quyết : "Dù thiên thần xuống bảo tôi bỏ đạo, tôi cũng chẳng tin. Dù kính trọng cha Liêu, tôi không thể làm điều sai lạc đó được. Hơn nữa, tôi biết chắc ngài không ra lệnh tôi làm như vậy. Còn với dân chúng, tôi thương mến thật, nhưng cũng không vì họ mà tôi xúc phạm đến Chúa".
Nhiều người ngoại giáo nói với nhau: "Giá như đạo mình bị cấm, chắc ta đã bước qua ảnh tượng trăm lần… Tượng đồng, ảnh giấy có chi mà sợ". Thấy không thể lay chuyển được người tôi trung của Chúa Kitô, quan cho giải thầy Cần lên Hà Nội. Tám tháng tù ở Thanh Oai, mười tháng tù ở Hà Nội, là cả chuỗi ngày cực hình đổ trên người thầy : cổ mang gông, tay mang xiềng xích, chân bị cùm… nhà tù thì nồng nặc mùi hôi hám, vì tù nhân phóng uế tại chỗ, lính canh đánh đập thầy mỗi ngày để tra khảo tiền bạc. Trong một lá thư gửi cha Liêu, thầy viết : "Con bị tra tấn ba lần, hai lần đầu, mỗi lần 60 roi, lần sau 50 roi, nhà giam đã chật hẹp hôi hám, lại có hơn chục anh đầu trộm đuôi cướp, ăn nói lỗ mãng, ban ngày say sưa, ban đêm cờ bạc, lúc nào cũng ồn ào làm con khó cầu nguyện quá".
* Tông đồ trong trại giam.
Thế nhưng, thầy không chán nản, mà coi đó là môi trường Chúa gởi đến. Thầy kiên nhẫn giúp được hai tù nhân hối cải, dạy giáo lý và rửa tội được vài người, chúng ta hãy đọc một đọan thư thầy viết từ trại giam ở Hà Nội :
"Con báo để cha an tâm. Ở đâu con cũng được mọi người thương mến, dù quan hay dân và các bạn tù đều kính trọng gọi con bằng thầy, có người còn tặng con danh hiệu khác nữa. Hầu hết họ cảm thương con bị đau khổ, hoặc khen con vững chí. Con hay bàn luận với họ và biết nhiều điều mê tín của họ, nhưng chưa biết khuyyên bảo họ sao bây giờ. Có một ông Chánh tổng cũng bị giam ở đây, hứa với con khi ra tù sẽ theo đạo và sống theo những điều con giảng… Thưa cha, con thấy người đời sẵn sàng chịu nhiều khổ sở để được giàu sang hoặc danh vọng chóng qua, lẽ nào con không nhẫn nại, chịu những sự khó qua mau này, để được vinh quang đời đời"

* Một Lời tuyên đoán.
Viên cai ngục Hà Nội thấy tác phong của thầy Cần, dự đoán : "Ông này chỉ bằng nắm tay mà nghị lực phi thường. Ông ta mà chết chắc sẽ trở lên Thành Hoàng của làng chứ chẳng chơi". Cũng trong thời kỳ ở Hà Nội, có lần thầy Cần bị bệnh nặng, một linh mục giả làm thầy lang vào giải tội, cho thầy được rước lễ và xức dầu. Nhưng sau đó thầy được bình phục ngay.
Ngày 20.11.1837, bản án vua Minh Mạng châu phê ra tới Hà Nội. Quan Tổng trấn khuyên thầy nhắm mắt bước qua Thập Giá. Thầy nói: "Mắt thì nhắm được, chứ lòng trí khôn không thể nhắm được, nên tôi chẳng làm". Quan lại cho xếp chéo hai khúc gỗ và nói: "Đây không phải ảnh Chúa, gỗ này cũng chưa được làm phép, cứ bước qua đi sẽ thoát chết". Nhưng thầy không làm vì biết đó là dấu hiệu chối đạo.
* Và thiên thu vĩnh phúc.
Một tuần sau, thầy Phanxicô Cần bị điệu ra pháp trường cửa ô Cầu Giấy. Năm viên quan cưỡi voi đi trước, 10 cai đội cưỡi ngựa theo sau, rồi đến 300 lính vũ lâm, mặc binh phục đỏ, tay cầm kiếm. Một người cầm tấm thẻ ghi bản án: "Can phạm theo đạo Gia Tô, không chịu bước qua Thập Giá, án xử giải". Dân chúng hôm đó, đi xem rất đông.
Tại pháp trường, dây thừng đã quấn quanh cổ, thầy Cần vẫn bình tĩnh cám ơn mọi người, nói với họ về cái chết theo đức tin Công Giáo, về hạnh phúc đời sau và hứa sẽ nhớ đến họ khi về bên Chúa. viên quan cố thuyết phục lần chót: "Anh có thể cứu mạng mình. anh không trộm cướp, cũng không làm loạn, bản án của anh còn có thể rút lại được, chỉ cần anh bước một bước qua Thập Tự:. Nhưng thầy trả lời : "Tôi trung không thờ hai chủ, xin quan cứ an tâm mà thi hành". Quan ra lệnh, tức khắc quân lính kéo mạnh hai đầu dây, người môn đệ Chúa Kitô gục đầu tắt thở, lãnh cành vạn tuế tử đạo ngày 20.11.1837, khi mới 34 tuổi.
Thi hài vị tử đạo được an táng tại Chân Sơn, sau cải táng về nhà thờ xứ Sơn Miêng. Đức Lêo XIII suy tôn thầy Nguyễn Cần lên bậc Chân Phước ngày 27.05.1900. Ngày 19-06-1988, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh.
Lời tiên đoán vô tình của viên cai ngục đã trở thành hiện thực. Ngày nay, thánh Phanxicô Saviê Nguyễn Cần không những là "Thành Hoàng" của làng Sơn Miêng, mà hơn thế, là Thánh Tử Đạo của Giáo Hội Việt Nam và được cả Giáo Hội hoàn cầu ngưỡng mộ.

Thứ Sáu Tuần XXXIII Thường Niên Lc 19,45-48.

Lời Chúa: Các người đã biến nhà Thiên Chúa thành sào huyệt của bọn cướp.
Ha-lê-lui-a. Chúa Nói: Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng, và chúng theo tôi. Ha-lê-lui-a.
Chính Chúa là bá chủ muôn loài:
nắm trong tay dũng lực quyền năng,

nhờ tay Ngài, tất cả lớn lên và mạnh sức.

Ngày 20/11 – Thánh Rose Philippine Duchesne (1769-1852)
Bà sinh tại Grenoble, Pháp, trong một gia đình mới giàu. Bà có ý chí mạnh mẽ và cương trực. Bà vào dòng lúc 19 tuổi mà không cho cha mẹ biết. Khi cuộc Cách mạng Pháp bùng nổ, tu viện bị đóng cửa, bà bắt đầu đi chăm sóc người nghèo và bệnh nhân, mở trường học cho ác trẻ em đường phố và liều mình giúp đở các linh mục đang phải lẩn trốn.
Khi tình hình lắng xuống, bà thuê một tu viện cũ và cố gắng khôi phục đời sống tu trì. Chỉ còn lại 4 nữ tu. Họ quy tụ thành Dòng Thánh Tâm, với bề trên trẻ là thánh Madeleine Sophie Barat. Một thời gian ngắn, Philippine làm bề trên và giáo tập, nhưng nữ tu này nhiều tham vọng. Vì nghe nói việc truyền giáo ở Louisiana từ hồi nhỏ, bà đi Mỹ và làm việc với dân Ấn Độ. Lúc 49 tuổi, bà ngũi đây là công việc của bà. Với 4 nữ tu, bà vượt biển suốt 11 tuần để tới New Orleans, và đi 7 tuần vượt sông Mississippi nữa để tới St. Louis. Lúc đó bà cảm thấy thất vọng. Đức giám mục không có chỗ cho họ ở nên sai bà tới một ngôi làng hẻo lánh là St. Charles, Missouri. Bà mở trường miễn phí cho nữ sinh ở phía Tây sông Mississippi.
Lúc 72 tuổi, sức khỏe bà suy yếu. Người ta gọi bà bằng biệt danh “Bà Luôn Cầu Nguyện”. Khi người khác dạy học, bà cầu nguyện. Bà qua đời lúc 83 tuổi.