Chủ Nhật, 3 tháng 7, 2016

Thứ Ba Tuần 14 Thường Niên Mt 9,32-38.

Lời Chúa: Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít.
Ha-lê-lui-a. Chúa nói: Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi. Ha-lê-lui-a.
Nhà Ít-ra-en, hãy tin cậy Chúa,
chính Chúa độ trì, làm thuẫn đỡ khiên che.
Nhà A-ha-ron hãy tin cậy Chúa,

chính Chúa độ trì, làm thuẫn đỡ khiên che.

Ngày 05/07 –  Thánh Antôn Zaccaria, Linh mục (1502-1539)
 Vào lúc Martin Luther công kích các sự lạm dụng trong Giáo hội, một cuộc cải cách Giáo hội đã nảy sinh. Một trong số người chống cải cách là Antôn Zaccaria. Mẹ ngài góa bụa lúc mới 18 tuổi và dành hết thời gian để giáo dục tâm linh cho con trai. Lúc 22 tuổi, ngài nhận bằng tiến sĩ y khoa, ngài hoạt động giúp dân nghèo bản xứ Cremona, và rồi bị thu hút vào hoạt động tông đồ. Ngài thụ phong linh mục lúc 26 tuổi. Ngài được sai đi Milan vài năm, và lập 3 dòng, một cho nam, một cho nữ, và một cho giáo dân. Ba dòng này họp định kỳ và khuyến khích nhau hoạtc động tông đồ bằng nhiều cách. Mục đích của dòng là cải cách xã hội suy đồi thời đó, bắt đầu từ giáo sĩ và tu sĩ.
Được linh hứng nhờ thánh Phaolô (tên dòng là Barnabites), ngài giảng đạo bằng sự nhiệt thành cả trong nhà thờ và ngoài đường phố. Ngài khuyến khích canh tân và hợp tác làm việc tông đồ, năng rước lễ, lòng sùng kính suốt 24 giờ và giật chuông nhà thờ lúc 3 giờ chiều vào các ngày thứ Sáu.
Sự thánh thiện của ngài đã lay động nhiều người canh tân đời sống, nhưng cũng có nhiều người chống đối ngài. Ngài bị bệnh nặng và được đưa về nhà thăm hiền mẫu. Ngài qua đời tại Cremona lúc 36 tuổi.

Thứ Bảy, 2 tháng 7, 2016

Ngày 04 Tháng 07 Năm 1775-1838, Giuse Nguyễn Đình Uyển Thầy Giảng Dòng Đaminh Tử Đạo.

* Niềm tin sống lại.

 Hạnh tích thánh Giuse Uyển, vị thầy giảng 63 tuổi cho chúng ta thấy niềm tin vào ngày “xác loài người sống lại” các tử đạo khi phải đối diện với cái chết. Đó là một ngày vinh hiển cho những ai trung thành giữ đạo thánh Chúa. Lúc mới bị bắt quan tỉnh Hưng Yên dọa chém đầu, thầy mạnh dạng trả lời: “Bẩm quan lớn, tôi có bị chém chết mới trông được sống lại ngày mai”. Lần khác sau cuộc tra tấn vô hiệu, một người lính rút gươm ra dọa chém ngay cổ, thầy Uyển vẫn bình tĩnh, mặt không hề biến sắc. Người lính hỏi: “Lão không sợ ta chém ư ?”. Thầy điềm nhiên tuyên xưng niềm tin của mình: “Hãy chém đi đến ngày phán xéttôi sẽ có một cái đầu mới”.

 * Thầy phòng bộ và thầy sở.
 Giuse Nguyễn Đình Uyển sinh năm 1775 tại làng Ninh Cường tỉnh Nam Định, lớn lên ngài vào sống trong chủng viện Tiên Chu và được gởi đến cha Nhân. sau chính thức là thầy giảng và trợ tá đắc lực của Đức cha Henares Minh (giáo phận Đông Đàng Ngoài). Theo lời khuyên của Đức cha, thầy gia nhập dòng ba Đaminh. Mỗi lần Đức cha đi kinh lý các giáo xứ trong giáo phận đều cho thầy tháp tùng. Mọi người gặp thầy đều ca tụng đời sống gương mẫu, đặc biệt trong việc giữ kỷ luật dòng ba và tinh thần tông đồ của thầy. Năm 1838, khi cuộc bách hại bùng nổ ở Đông Đàng Ngoài, hai giám mục và các linh mục phải tìm đường lẫn tránh. Đức cha Minh chính thức giao cho thầy Uyển trách nhiệm coi sóc giáo xứ Tiên Chu, dù thầy không có chức thánh vẫn chu toàn đầy đủ trách nhiệm đặc biệt này, điều khiển mọi sinh hoạt trong xứ, khích lệ các tín hữu giữ niềm tin, được Đức cha và các tín hữu yêu mến tín nhiệm.
 Ngày 29.05.1838, quan quân đến vây làng Tiên Chu tìm bắt Đức cha phó. Họ ra lệnh cho mọi người có đạo trình diện ở đình làng để điểm danh. Thầy Uyển cũng ra trình diện với giáo hữu của mình. Vì vô ý để lộ ra khỏi cổ chiếc áo dòng ba, thầy bị quan gọi riêng ra hỏi: “Ông có phải đạo trưởng không?”. Thầy trả lời: “Không”. Một người lính đùa giỡn tới vuốt mũi thầy và nói: “mũi ông này dài chắc là cố Tây chứ chẳng sai”. Thầy Uyển lắc đầu tỏ vẻ phản đối  nhưng không nói gì cả. Tiếp theo quan bảo thầy bước qua Thánh Giá, nếu không sẽ bị chém đầu. Thầy Uyển từ chối và tuyên xưng niềm tin của mình. Quan nổi giận truyền trói thầy rồi đến chiều cho giải lên Hưng Yên. Quan tuần phủ Hưng Yên điều tra sơ khởi xem thầy có chức bậc nào và ai truyền chức ? Các thừa sai trốn ở đâu ?.thầy không đáp một lời nên bị đóng gông giam vào ngục.
 * Gian truân nghìn nỗi.
Hôm sau, thầy Uyển bị dẫn ra toà. Quan án nghiêm nghị truyền thầy bỏ đạo và ký giấy xuất giáo. Nhưng vị anh hùnh đức tin cương quyết trung thành với Chúa. quan cho đánh 39 roi rồi hỏi về đạo. Thấy Giuse Uyển lợi dụng cơ hội giải thích cho mọi người có mặt về 10 điều răn Chúa. tối đến thầy lại bị tống giam vào ngục. Vì bị bệnh tả rất nặng, cộng thêm với trận đòn ban ngày, thấy rũ liệt gần chết, quan án thương tình cho mời lương y đến chữa trị.
 Mười lăm ngày sau, khi cơn bệnh mới tạm khỏi, quan lại cho điệu tù nhân ra tòa. Quan nói: “Ông Uyển hãy xuất giáo, ta sẽ tha về với vợ con”. Thầy đáp: “Tôi không có vợ con”. Quan tòa quát lên: “Bước qua Thập Giá đi để giữ lấy mạng sống, con chó còn ham sống dù chỉ một ngày, huống chi con người.”  Vị chiến sĩ anh hùng trả lời: “Nếu quan để sống thì tôi cám ơn quan, còn việc bước qua Thánh Giá thì tôi không làm”. Quan cho đánh 18 roi rồi nói: “Chỉ một bước là sống, sao ông không chịu?”. Thầy trả lời: “Tôi coi sự sống đời này chỉ lớn bằng ngón tay thôi”.
 Thế là quan nổi giận cho lính dùng sưc mạnh lôi thầy qua Thánh Giá. Thầy bèn ngồi bệt xuống đất, mặc cho quân lính đánh đập. Bốn người lính với hai đầu gông mới khiêng thầy lên nổi. Thầy Uyển co gập hai chân để khỏi chạm vào Thánh Giá, đồng thời cầu nguyện xin Chúa giúp sức. Một viên quan truyền lệnh: “Cắt bộ râu nó đi”. Anh lính đứng gần đó liền nắm râu của thầy, tay kia định xén, nhưng thấy cụ già mệt và sắp chết nên lại thôi. Sau đó còn một lần quan bảo thầy Uyển xuất giáo, nhưng mọi lần quan lại thấy chí khí của thầy. Ông không dấu được lòng thán phục phải thốt lên: “Bề ngoài hắn như kẻ sắp chết, thế mà lòng dạ lại cương quyết lạ lùng”. Rồi ông cho đeo gông nặng hơn, tống giam vào ngục và gởi án về kinh  xin xử trảm, bản án nhắc đến Phanxicô Chiểu đã bị chém ngày 20.06 và xin vua phê một án tương tự.

 * Phúc trường sinh.
Trong khi chờ bản án được châu phê, thầy Uyển còn bị cắt giảm phần ăn mỗi ngày. Thân xác kiệt quệ vì đòn roi, vì đói khổ, vì bệnh hoạn, vì tuổi già. Thầy Giuse Uyển vẫn một lòng  kiên vững với niềm tin sắt đá của mình. Thế rồi hồi ba giờ chiều ngày 04.07.1838, ngài đã chết rục tù trong niềm tin vững mạnh đó. Tuy chưa bị xử trảm  nhưng cái chết khổ đau của thầy Giuse thật xứng đáng đội triều thiên vinh  phúc tử đạo. Các quan cho phép các tín hữu đưa thi hài về an táng tại xứ Tiên Chu, nơi đã từng sống với  họ trong những ngày lo âu gian khổ nhất.
 Đức Lêô XIII suy tôn thầy giảng dòng ba Đaminh Giuse Nguyễn Đình Uyển lên bậc chân phước ngày 27.05.1900. Ngày 19-06-1988, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh.

Thứ Hai Tuần 14 Thường Niên Mt 9,18-26.

Lời Chúa: Con gái tôi vừa mới chết. Nhưng xin Ngài đến đặt tay lên cháu, là nó sẽ sống.
Ha-lê-lui-a. Đấng Cứu Độ chúng ta là Đức Giê-su Ki-tô đã tiêu diệt thần chết, và đã dùng Tin Mừng mà làm sáng tỏ phúc trường sinh. Ha-lê-lui-a.
Chúa là Đấng từ bi nhân hậu,
Người chậm giận và giàu tình thương.
Chúa nhân ái đối với mọi người,

Tỏ lòng nhân hậu với muôn loài Chúa đã dựng nên.

Ngày 04/07 –  Thánh Elizabeth Bồ Đào Nha (1271-1336)
Elizabeth thường được mô tả trong trang phục hoàng gia với con chim bồ câu hoặc cành lá ôliu. Khi bà sinh năm 1271, cha bà là Pedro III, vua tương lai của Aragon, hòa giải với ông nội bà là James, nhà vua đang tại vị. Vì ảnh hưởng sức khỏe trong những năm đầu đời, bà biết sống có kỷ luật cần thiết cho tâm linh. Lúc 12 tuổi, bà được hứa hôn với Denis, vua của Bồ Đào Nha. Nhưng bà tự phát triển cách sống trong tình yêu Thiên Chúa, không chỉ bằng lòng yêu thương, kể cả qua thánh lễ hàng ngày, mà còn qua việc thực hành bác ái, nhờ đó bà có thể thân thiện và giúp đỡ khách hành hương, người lạ, bệnh nhân, và người nghèo. Bà tận tụy với chồng, nhưng chồng bà không chung thủy và tạo ảnh hưởng xấu tới vương quốc.
Bà tìm sự bình an cho chồng nơi Thiên Chúa. Cuối cùng bà được ơn Chúa là chồng bà bỏ đàng tội lỗi. Bà cố gắng kiến tạo hòa bình giữa Ferdinand, vua của Aragon, và người anh em của vua Ferdinand là James, vì James muốn tiếm ngôi. Sau khi chồng mất, bà vào dòng Phanxicô thánh Clara.

Thứ Sáu, 1 tháng 7, 2016

Ngày 03 Tháng 07 Năm 1815-1853, Philiphê Linh Mục Phan Văn Minh Tử Đạo.

* Lời nguyện là thần lương.
Bên kia bờ sông Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long trước khi đến Cái Sơn Bè, theo thói quen người ta dọn một bữa ăn ngon cho tử tội trước khi xử trảm. Nhưng tử tội linh mục Philphê Minh đã từ chối, chẳng phải lo sợ hãi nuốt không nổi, vì trên đường ra pháp trường cha đã chẳng luôn hiên ngang tươi cười đó sao ?
Thế nhưng chỉ còn ít phút nữa để hoàn thành sứ mạng nơi trần thế, ít phút nhưng không phải khoảng thời gian tầm thường, ít phút là cao điểm của một kiếp nhân sinh. Để sống trọn vẹn vài phút đó, cha Minh đã chọn một thức ăn khác, như một thứ lương thực cần thiết cao quý hơn : cha quỳ xuống ngửa mặt lên trời âm thầm cầu nguyện. Và sau bữa ăn tâm linh cuối cùng, cha nói ngắn gọn với lý hình : “Đã xong rồi.”

Một hồi chiêng trống vang lên, thời gian như chùng lại trang trọng và linh thiêng trong giờ phút cuối cùng của đời cha. Những giây phút thật ý nghĩa, thật trọn vẹn thật tràn trề trôi qua, cha được bước vào cõi hạnh phúc vĩnh cửu sau khi lý hình vung nhát gươm kết liễu cuộc hành trình làm chứng cho Đức Kitô.

Philiphê Linh Mục Phan Văn Minh Tử Đạo
* Soạn giả từ điển.
Sinh trưởng trong một gia đình đạo đức và lễ nghĩa thuộc làng Cái Mơn, huyện Mỏ Cày, tỉnh Vĩnh Long, năm Ất Hợi (1815). Philiphê Phan Văn Minh con ông Đaminh Phan Văn Đức và bà Anna Tiếu, là người con út trong gia đình có 14 anh chị em. Cha mẹ cậu mất sớm mọi việc trong nhà đều do một mình người chị đảm đang “người chị thư’ hai” này đã lo cho các em cả về vật chất lẫn tinh thần. Cậu Minh được học hỏi giáo lý chu đáo để rước lễ lần đầu, rồi lãnh nhận bí tích thêm sức năm 13 tuổi. Sau đó cậu được Đức Cha  Tabert Từ, nhận cậu cho đi học chủng viện Lái Thiêu. Nhưng chỉ ít lâu, do sắc lệnh cấm đạo 1833 của vua Minh Mạng chủng viện phải giải tán.
Thời gian này thầy Minh được theo Đức cha Từ qua Thái Lan, rồi đến trọ tại chủng viện Pénang, Mã Lai. Thầy có vinh dự được Đức Cha gọi qua  Calcutta (Ấn Độ) để hợp tác với ngài soạn bộ từ điển LaTinh – Việt Nam năm 1838. khi Đức Cha qua đời thầy lại trở về Pénang tiếp tục học thần học, các giáo sư và bạn đọc đều quý mến thầy, một sinh viên xuất sắc, học giỏi và có tinh thần đạo đức.
* Vị tông đồ hăng say.
Hết thời gian học tại Pénang, thầy Minh trở về nước và được Đức Cha Cuênot Thể, truyền chức linh mục năm 1840 tại Gia Hữu. Sau khi vua Minh Mạng băng hà, giáo hội được hưởng một thời kỳ an bình dễ chịu hơn. Vua Thiệu Trị lên ngôi tuy không huỷ bỏ những sắc lệnh cấm đạo, nhưng không gắt gao thi hành như trước nữa. Nhờ đó cha Minh có thể đi thăm viếng, dạy kinh cho các tín hữu ở vùng Tiền Giang, Hậu Giang. Những làng như  Đầu Nước, Xoài Mút, Chợ Búng, Ba Dòng, Cái Nhum, Cái Mơn, Bãi San, Chà Và, Mặc Bắc đều còn ghi dấu chân truyền giáo của cha. Khi vua Tự Đức lên ngôi năm 1847, việc cấm đạo vẫn lắng dịu ít lâu. Nhưng sau đó lại trở nên dữ dội hơn bao giờ hết.
Sau chiếu chỉ tháng 08.1848, và nhất là chiếu chỉ tháng 03.1851 truyền phải chém đầu thả trôi sông Tây dương đạo trưởng, tra tấn và xử tử các  các giáo sĩ bản quốc cố chấp, phát lưu những người theo giatô tả đạo. Vua còn ghi rõ các quan phải triệt để thi hành mệnh lệnh này.
Trong tình hình hết sức khó khăn đó, cha Minh vẫn bình tĩnh chu toàn bổn phận của một mục tử : cha vẫn đi lại khuyến khích các tín hữu, mở các lớp giáo lý và trao ban các bí tích.
Khi đó ở làng Mặc Bắc, có một người tên Nhẫn, vì có lần xin tiền cha Lựu không được, nên để tâm thù oán và đi tố giác với quan. Ngày 26.02.1853, quan sai lính đến vây nhà ông trùm Lựu nhưng cha Lựu đã đi nơi khác, còn cha Minh và vài chủng sinh đang ở trọ đó. Để cứu cha Minh ông trùm Lựu đứng ra nói : “Thưa quan không có đạo trưởng Lựu ở đây. Lựu chính là tên tôi.” Họ thấy dáng dấp cụ chỉ là nông dân lam lũ, nên tiếp tục đi lục soát khắp nhà. Khi đó cha Minh sợ quan quân, vì mình mà hại gia đình ông Trùm, nên ra mặt nhận mình là linh mục. Thế là cùng với bảy vị chức sắc trong vùng, cha bị bắt trói và đeo gông và đẩy đưa xuống thuyền đưa về giam tại tỉnh Vĩnh Long. Tại đây quan tổng đốc hạch hỏi cha về các linh mục khác, những nơi đã trú ẩn, nhưng không khai thác được gì cả. Những ngày sau quan dùng mọi cách, khi thì dụ dỗ khi thì dọa nạt, khi quân lính kéo cha qua khỏi Thập Giá để bắt cha chối đạo. Nhưng cha Minh vẫn giữ lập trường của mình, trung thành với Đức Kitô và gíao hội. Thấy cha còn trẻ mới 38 tuổi, lại hiền lành học thức, các quan muốn tìm cách cứu cha, họ không bắt cha bước qua Thập Giá nữa chỉ cần cha nói miệng là “đã bỏ đạo” cũng được tha. Nhưng cha Minh một mực từ chối đề nghị này.

* Đường về trời.
Không thể làm gì hơn được, các quan cho lính đưa  cha về giam tại Tuyên Phong chờ ngày lãnh án. Nghe án xử từ kinh đô đã gửi về cha Minh quỳ gối tạ ơn Chúa, rồi an ủi các anh em bạn tù nên vui lòng tuân theo ý Chúa, hẹn tái ngộ trên nước trời. Cha nói : “Xin anh em vững dạ cậy trông Chúa, ngài chẳng từ bỏ ai và ngài sẽ thưởng công bội hậu cho những ai tận tâm tôn thờ ngài”. Cha cũng căn dặn một tín hữu ở ngoài : tiền bạc của cha nếu còn lại, đừng phí tổn ma chay lớn làm chi, cứ đem phân phát hết cho người nghèo. Cuối cùng ngày mong đợi của cha đã đến. Cha vui vẻ lần chuỗi tiến ra pháp trừơng, qua bờ Sông Long Hồ đến Cái Sơn Bé, quân lính dọn bữa ăn sau cùng, nhưng cha Minh không thiết gì nữa. Cha chăm chú cầu nguyện, sau hồi chiêng trống rền vang. Lưỡi gươm lý hình đã đưa linh hồn vị anh hùng tiến thẳng về thiên Quốc. Lời nguyện cầu thánh thiện sau hết của cha Minh còn âm vang trong lòng những người hiện diện. “Lạy Chúa xin thương xót con, lạy Đức Giêsu, xin cho con sức mạnh và can đảm chịu khổ để vinh danh ngài. Lạy Mẹ Maria xin nâng đỡ con “.
Hôm đó là ngày 03.07.1853. thi thể vị tử đạo được đưa về an táng dưới nền một nhà thờ mới bị đốt phá ở Cái Mơn. Năm 1960, di cốt ngài được đưa về Vương Cung Thánh  Đường Sài Gòn trong dịp lễ cung hiến.
Đức Cha Lêo XIII suy tôn cha Philiphê Phan Văn Minh lên bậc chân phước ngày 27.05.1900. Chủng viện giáo phận Vĩnh Long đã nhận thánh Philiphê Phan VănMinh làm bổn mạng, vào ngày 19 tháng 06 năm 1988 Đức Giáo Hoàng Gioan Phao lô II đã suy tôn ngài bậc Hiển Thánh.

Chúa Nhật XIV Thường Niên Năm C

Lời Chúa: Bình an của anh em sẽ ở lại với người ấy.
       Một hôm, Chúa Giê-su chỉ định bảy mươi hai người khác, và sai các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Người sẽ đến. Người bảo các ông:
      “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về. Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói. Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường. Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: "Bình an cho nhà này!" Nếu ở đó, có ai đáng hưởng bình an, thì bình an của anh em sẽ đến đậu trên người ấy; bằng không, thì bình an đó sẽ quay về với anh em. Hãy ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó, vì làm thợ thì đáng được trả công. Đừng đi hết nhà nọ đến nhà kia. Vào bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón, thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em. Hãy chữa những người đau yếu trong thành, và nói với họ: “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần các ông". Nhưng vào bất cứ thành nào mà người ta không tiếp đón, thì anh em ra các quảng trường mà nói: “Ngay cả bụi trong thành các ông dính chân chúng tôi, chúng tôi cũng xin giũ trả lại các ông. Tuy nhiên các ông phải  biết điều này: Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần”. Thầy nói cho anh em hay: trong ngày ấy, thành Xơ-đom còn được xử khoan hồng hơn thành đó.”

     Nhóm Bảy Mươi Hai trở về, hớn hở nói: “Thưa Thầy, nghe đến danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục chúng con”. Đức Giê-su bảo các ông: “Thầy đã thấy Xa-tan như một tia chớp từ trời sa xuống. Đây, Thầy đã ban cho anh em quyền năng để đạp lên rắn rết, bọ cạp và mọi thế lực Kẻ Thù, mà chẳng có gì làm hại được anh em. Tuy nhiên, anh em chớ mừng vì quỷ thần phải khuất phục anh em, nhưng hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên  trời.”

SUY NIỆN & CẦU NGUYỆN
       Bài Tin Mừng hôm nay tường thuật về việc Chúa Giêsu sai 72 môn đệ đi rao giảng Tin Mừng, trong đó nói lên sự khẩn thiết của việc truyền giáo và sứ mạng ấy được khởi đi từ lệnh truyền của Chúa Giêsu: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, mà loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo.” Từ đó, chúng ta xác định căn tính truyền giáo thuộc về chúng ta. Bao lâu chúng ta không truyền giáo, thì bấy lâu ta đánh mất bản chất Kitô hữu của chính mình. Bởi vì: “Khốn thân tôi, nếu tôi không loan báo Tin Mừng.” Đó là nỗi lòng thao thức của Chúa Giêsu: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít.” phải chăng đây là lời chất vấn lương tâm của mỗi người Kitô hữu chúng ta.
      Đúng vậy, trong đời sống đạo hàng ngày, rất nhiều người chúng ta dễ dàng quên đi niềm vui đặc biệt này, nhất là những ai tỏ ra quá quan tâm tới phần rỗi linh hồn mình mà không nhớ đến các linh hồn khác, việc giữ đạo là một cuộc chiến đấu trường kỳ, đầy cam go thử thách. Với ơn Chúa nâng đỡ, chúng ta phải ra sức chiến đấu sao cho có thể chiến thắng được ba thù. Chúng ta mừng vui mỗi khi vượt thắng được một cơn cám đỗ và rất đau buồn khi không may sa ngã vì yếu đuối. Thế nhưng, có lẽ chính vì cuộc chiến thiêng liêng này được thực hiện với quá nhiều quyết tâm mà việc giữ đạo của chúng ta trở thành một nỗi lo nhiều hơn là nỗi mừng.
      Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, xin ban Chúa Thánh Thần xuống tràn đầy cho công  việc loan báo Tin Mừng thật tốt đẹp và đặc biệt cho những vị mục tử nhân lành đang làm việc trên những cánh đồng truyền giáo xa xôi hẻo lánh. Nguyện xin Mẹ Maria và Thánh cả Giuse cùng toàn thể các Thánh xin đồng hành và phù trợ các ngài.  Amen

Ngày 03/07 –  Thánh Tôma, Tông đồ
Tội nghiệp thánh Tôma! Ngài đã từng bị gắn mác là “Tôma đa nghi”. Nhưng nếu ngài không nghi ngờ thì ngài cũng tin. Ngài nói một câu minh nhiên nhất trong Tân ước: “Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con!” (x. Ga 20:24-28), đó là câu tuyên xưng đức tin đã cho các tín hữu một lời cầu nguyện mãi mãi cho đến tận thế. Ngài cũng gợi ra một lời khen của Chúa Giêsu dành cho các tín hữu: “Phúc thay những người không thấy mà tin!” (Ga 20:29).
Thánh Tôma có tiếng là can đảm. Có thể điều ngài nói là mạnh mẽ – vì ngài chạy, cũng như những người khác, khi bị thử thách – nhưng ngài có thể không thành thật khi ngài bày tỏ sự sẵn sàng chết với Chúa Giêsu. Cơ hội là khi Chúa Giêsu đề nghị đi tới Bêtania sau khi Ladarô đã chết. Vì Bêtania gần Giêrusalem, nghĩa là đi bộ ngay giữa lòng quân thù và hầu như là chết chắc! Nhận ra điều này, thánh Tôma đã nói với các tông đồ: “Cả chúng ta nữa, chúng ta cũng đi để cùng chết với Thầy!” (Ga 11:16b).

Thứ Bảy Tuần 13 Thường Niên Mt 9,14-17.

Lời Chúa: Chẳng lẽ khách dự tiệc cưới lại có thể than khóc, khi chàng rể còn ở với họ.
Ha-lê-lui-a. Chúa nói: Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng, và chúng theo tôi. Ha-lê-lui-a.
Vâng, chính Chúa sẽ tặng ban phúc lộc
và đất chúng ta trổ sinh hoa trái.
Công lý đi tiền phong trước mặt Người,

mở lối cho Người đặt bước chân.

Ngày 02/07 –  Thánh Oliver Plunkett, Giám mục Tử đạo (1629-1681)
Thánh Oliver Plunkett tử đạo vì bảo vệ đức tin ở Ai-len trong thời bách hại dữ dội.
Ngài sinh tại County Meath năm 1629, học ở Rôma và thụ phong linh mục năm 1654. Sau vài năm dạy học và phục vụ người nghèo ở Rôma, ngài được bổ nhiệm làm tổng giám mục giáo phận Armagh ở Ai-len. Năm 1673, một làn sống chống Công giáo nổi lên, buộc ngài phải làm mục vụ bí mật và sống lén lút. Trong khi đó, nhiều linh mục bị đi đày, các trường học bị đóng cửa, thánh lễ phải cử hành bí mật, các dòng tu và chủng viện bị hạn chế.
Là TGM, ngài phải chịu trách nhiệm về mọi cuộc nổi loạn hoặc hoạt động chính trị trong các giáo dân. Ngài bị bắt tù ở Dublin Castle năm 1679, nhưng bị xử tại London. Sau 15 phút ngị án, thẩm phán kết án ngài tội xúi giục nổi loạn. Ngài bị treo cổ, bị kéo lê và bị phân thây làm tư vào tháng 7-1681. Chân phước Giáo hoàng Phaolô VI phong thánh cho ngài năm 1975.

Thứ Sáu Tuần 13 Thường Niên Mt 9,9-13.

Lời Chúa: Người khẻo mạnh không cần Thầy thuốc. Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế.
Ha-lê-lui-a. Chúa nói: Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Ha-lê-lui-a.
Con khát khao huấn lệnh của Ngài,
vì Ngài công chính, xin cho con đượ sống.
Con há miệng và con hớp lấy,

vì khát khao mệnh lệnh của Ngài.

Ngày 01/07 –  Chân phước Giuniperô Serra, Linh mục (1713-1784)
 Năm 1776, khi cuộc Cách mạng Hoa Kỳ bắt đầu ở miền Đông, một vùng khác của Hoa Kỳ sau đó cũng được sinh ra tại California. Năm đó, một tu sĩ Dòng Phanxicô thành lập Hội Truyền giáo Thánh Gioan Capistranô (Mission San Juan Capistrano). Thánh Gioan Capistranô là Hội Truyền giáo thứ 7 trong 9 Hội Truyền giáo được thành lập theo hướng dẫn của người Tây Ban Nha bất khuất (indomitable Spaniard).
 Sinh tại đảo Mallorca, thuộc Tây Ban Nha, Serra vào Dòng Phanxicô, lấy tên theo người bạn của Thánh Phanxicô là Juniperô. Tới lúc 35 tuổi, ngài dành nhiều thời gian học tập – đầu tiên học thần học rồi làm giáo sư. Ngài cũng nổi tiếng về giảng thuyết. Bất ngờ ngài bỏ hết mọi sự khi nghe nói về việc truyền giáo của thánh Phanxicô Sôlanô ở Nam Mỹ. Ước mong của ngài là hoán cải dân bản xứ ở Tân Thế Giới.
Đến Vera Cruz, thuộc Mexico, ngài và một người bạn đi bộ 250 dặm tới thành phố Mexico. Trên đường đi, chân trái ngài bị nhiễm trung do bị côn trùng cắn và đôi khi đe dọa tính mạng trong suốt phần đời còn lại của ngài. Suốt 18 năm, ngài làm việc ở miền Trung Mexico và ở bán đảo Baja, ngài trở thành trưởng nhóm truyền giáo ở đó.
 Hứa ở lại với dân địa phương, ngài và một tu sĩ nữa bắt đầu làm tuần cửu nhật chuẩn bị lễ Đức Thánh Giuse 19-3. Sau đó có thêm các Hội Truyền giáo khác là Hội Truyền giáo Monterey/Carmêlô (1770); Hội Truyền giáo Thánh Antôniô và Thánh Gabriel (1771); Hội Truyền giáo Thánh Luís Obispo (1772); Hội Truyền giáo Thánh Phanxicô và Thánh Gioan Capistranô (1776); Hội Truyền giáo Thánh Clara (1777); Hội Truyền giáo Thánh Bônaventura (1782). Sau khi ngài qua đời, có thêm 12 nhóm truyền giáo khác được thành lập.
 Đời sống truyền giáo của ngài là cuộc chiến với cái lạnh và cái đói, với quân đội không thông cảm và với cả cái chết rình rập vì dân bản xứ. Nhưng hàng đêm ngài vẫn hăng say cầu nguyện, thường là từ nửa đêm tới sáng. Ngài rửa tội cho hơn 6.000 người và thêm sức cho 5.000. Hầu như ngài đi vòng quanh trái đất. Ngài đem lại cho người Mỹ bản xứ không chỉ đức tin Công giáo mà còn tiêu chuẩn sống nên được họ quý mến. Sau khi qua đời, ngài được an táng tại Dòng Truyền Giáo San Carlo Borromeo, Carmel, và được phong chân phước năm 1988.