Thứ Hai, 6 tháng 7, 2015

Thứ Ba Tuần XIV Thường Niên Mt 9,32-38.


Lời Chúa: Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít.
Ha-lê-lui-a. Chúa nói: Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi. Ha-lê-lui-a.
Lạy Chúa, xin nghe con giãi bày lẽ phải,
lời con than vãn, xin Ngài để ý;
xin lắng tai nghe tiếng con cầu

thốt ra từ miệng lưỡi chẳng điêu ngoa.

Ngày 07/07 –  Chân phước Emmanuel Ruiz, Linh mục, và các bạn tử đạo (1804-1860)
     Không biết nhiều về cuộc đời hồi trẻ của chân phước Emmanuel Ruiz, nhưng chúng ta biết chi tiết về cái chết anh dũng của Ruiz vì bảo vệ đức tin.
     CP Emmanuel Ruiz sinh trong một gia đình khiêm nhường ở Santander, Tây Ban Nha. Ngài tu Dòng Phanxicô, thụ phong linh mục và đi truyền giáo ở Damascus. Đó là lúc Công giáo bị chống đối làm rung chuyển Syria và hàng ngàn người bị sát hại. Trong số đó có CP Emmanuel Ruiz, bề trên Dòng Phanxicô, 7 tu sĩ và 3 giáo dân. Khi đám đông đến lục soát, họ cương quyết bảo vệ đức tin và không chịu theo Hồi giáo. Họ bị hành hạ dã man cho đến chết. CP Emmanuel Ruiz cùng các tu sĩ và các giáo dân được ĐGH Piô XI tôn phong chân phước năm 1926.

Chủ Nhật, 5 tháng 7, 2015

Thứ Hai Tuần XIV Thường Niên Mt 9,18-26.


Lời Chúa: Con gái tôi vừa mới chết. Nhưng xin Ngài đến đặt tay lên cháu, là nó sẽ sống lại.
Ha-lê-lui-a. Đấng Cứu Độ chúng ta là Đức Giê-su Ki-tô đã tiêu diệt thần chết, và đã dùng Tin Mừng mà làm sáng tỏ phúc trường sinh. Ha-lê-lui-a.
Chúa phán: Kẻ gắn bó cùng Ta sẽ được ơn giãi thoát,
người nhận biết danh Ta sẽ được sức phù trì.
Khi kêu đến Ta, Ta liền đáp lại

Lúc ngặt nghèo có Ta ở kề bên.

Ngày 06/07 –  Thánh Maria Goretti, Đồng trinh Tử đạo (1890-1902)
 Có đến 250.000 người tham dự lễ phong thánh cho “cô bé” Maria Goretti.
 Maria Goretti là con một tá điền người Ý nghèo nàn, không được đi học nên không biết đọc biết viết. Maria Goretti được rước lễ lần đầu không được bao lâu thì qua đời lúc 12 tuổi.
 Vào một buổi chiều tháng Bảy nóng bức, Maria Goretti ngồi trên đầu cầu thang trong nhà để sửa áo, chưa đầy 12 tuổi như cơ thể đã nảy nở. Một chiếc xe bò dừng lại bên ngoài, một người hàng xóm là Alessandro Serenelli, 18 tuổi, chạy lên cầu thang. Hắn chộp lấy Maria Goretti và đưa vào giường. Maria Goretti chống cự dữ dội và kêu cứu, hắn định tự sát chứ không chịu bị bắt. Maria Goretti nói: “Không, Chúa không muốn vậy. Đó là tội. Anh sẽ sa hỏa ngục vì tự tử”. Alessandro bắt đầu chĩa dao và đâm Maria Goretti.
     Maria Goretti được đưa tới bệnh viện. Giây phút cuối, Maria Goretti lo cho mẹ sẽ có ngủ được hay không, và sẵn sàng tha thứ cho kẻ giết mình. Maria Goretti trút hơi thở cuối cùng sau 24 giờ bị đâm.
     Kẻ sát nhân bị kết án 30 năm tù. Một thời gian lâu sau mà hắn vẫn không hối hận. Có một đêm hắn chiêm bao thấy Maria Goretti hái những bông hoa trao cho hắn. Từ đó hắn thay đổi cuộc sống. Sau 27 năm tù, Alessandro được tha, hành động đầu tiên là anh ta đến xin lỗi mẹ của Maria Goretti.
     Lòng sùng kính vị thánh trẻ tử đạo này lan nhanh, các phép lạ xuất hiện, Maria Goretti được phong thánh chỉ sau gần 50 năm. Năm 1947, tại lễ phong chân phước cho Maria Goretti, người mẹ (lúc đó 82 tuổi), 2 em gái và 1 em trai đã xuất hiện cùng với ĐGH Piô XII trên lan can Đền thờ thánh Phêrô. Ba năm sau, tại lễ phong thánh cho Maria Goretti, Alessandro Serenelli (lúc đó đã 66 tuổi) quỳ giữa hàng trăm người và bật khóc.

Thứ Sáu, 3 tháng 7, 2015

Chúa Nhật XIV Thường Niên Năm B

Lời Chúa: Không một tiên tri nào mà không bị khinh bỉ ở quê hương.
      Khi ấy, Chúa Giêsu trở về quê nhà và các môn đệ cùng theo Người. Đến ngày Sa-bát, Người vào giảng trong hội đường, và nhiều thính giả sửng sốt về giáo lý của Người, nên nói rằng: "Bởi đâu ông này được như vậy? Sao ông được khôn ngoan như vậy? Bởi đâu tay Người làm được những sự lạ thể ấy? Ông này chẳng phải bác thợ mộc con bà Maria, anh em với Giacôbê, Giuse, Giuđa và Simon sao? Chị em ông không ở với chúng ta đây sao?" Và họ vấp phạm vì Người.

      Chúa Giêsu liền bảo họ: "Không một tiên tri nào mà không bị khinh bỉ ở quê hương, gia đình họ hàng mình". Ở đó Người không làm phép lạ nào được, ngoại trừ đặt tay chữa vài bệnh nhân, và Người ngạc nhiên vì họ cứng lòng tin. Người đi rảo qua các làng chung quanh mà giảng dạy.

SUY NIỆM & CẦU NGUYỆN
    Bài Tin Mừng hôm nay kể lại rằng, Chúa Giêsu trở về quê hương Nagiareth của mình, trong tư cách là một ngôn sứ, là một bậc thầy. Ngài trở về lần này có các môn đệ cùng đi. Vào ngày Sabát, Ngài vào hội đường đọc sách Thánh và công bố giáo lý của Người, dân làng ngạc nhiên. Họ bảo nhau: "Bởi đâu ông ta được như thế? Ông ta được khôn ngoan như vậy, nghĩa là làm sao? Ông ta làm được những phép lạ như thế, nghĩa là gì? Ông ta không phải là bác thợ, con bà Maria, và anh em của các ông Giacôbê, Giuse, Giuđa và Simon sao? Chị em của ông không phải là bà con lối xóm với chúng ta sao?" Và họ vấp ngã vì Người.
    Và ở đây niềm tin mời gọi chúng ta phải vượt qua dáng vẻ bề ngoài để đạt tới mầu nhiệm thâm sâu bên trong của Chúa Giêsu. Ngài là Đấng Thiên Sai, là Vị Cứu Tinh, là Đấng cứu chuộc nhân loại có một không hai trong thế giới nầy. Với cuộc khổ nạn và phục sinh của Người, Chúa Giêsu Kitô đã nói lên tiếng nói. Thiên Chúa là tình yêu đối với nhân loại, đối với mọi người chúng ta, kể cả những kẻ chống đối, kẻ phản bội tình yêu của Ngài. Cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá, không phải là một thất bại nhưng là một sự vinh thắng, và là chiến thắng của tình yêu, là quyền năng của Thiên Chúa được tỏ hiện trong mỗi người chúng ta.
   Lạy Chúa Giêsu, Chúa là Thiên Chúa của chúng con. Chúng con tin mạnh mẽ và hoàn toàn tín thác vào Chúa. Xin Chúa giúp chúng con can đảm loại bỏ thành kiến, loại bỏ quan niệm đánh giá và hành động theo cái nhìn bề ngoài, để chúng con luôn nhìn nhận giá trị đúng mức những gì Chúa thương dành cho chúng con và để chúng con nhìn thấy những giá trị cao quý nơi tha nhân.  Amen

Ngày 05/07 –  Thánh Antôn Zaccaria, Linh mục (1502-1539)
 Vào lúc Martin Luther công kích các sự lạm dụng trong Giáo hội, một cuộc cải cách Giáo hội đã nảy sinh. Một trong số người chống cải cách là Antôn Zaccaria. Mẹ ngài góa bụa lúc mới 18 tuổi và dành hết thời gian để giáo dục tâm linh cho con trai. Lúc 22 tuổi, ngài nhận bằng tiến sĩ y khoa, ngài hoạt động giúp dân nghèo bản xứ Cremona, và rồi bị thu hút vào hoạt động tông đồ. Ngài thụ phong linh mục lúc 26 tuổi. Ngài được sai đi Milan vài năm, và lập 3 dòng, một cho nam, một cho nữ, và một cho giáo dân. Ba dòng này họp định kỳ và khuyến khích nhau hoạtc động tông đồ bằng nhiều cách. Mục đích của dòng là cải cách xã hội suy đồi thời đó, bắt đầu từ giáo sĩ và tu sĩ.
Được linh hứng nhờ thánh Phaolô (tên dòng là Barnabites), ngài giảng đạo bằng sự nhiệt thành cả trong nhà thờ và ngoài đường phố. Ngài khuyến khích canh tân và hợp tác làm việc tông đồ, năng rước lễ, lòng sùng kính suốt 24 giờ và giật chuông nhà thờ lúc 3 giờ chiều vào các ngày thứ Sáu.
Sự thánh thiện của ngài đã lay động nhiều người canh tân đời sống, nhưng cũng có nhiều người chống đối ngài. Ngài bị bệnh nặng và được đưa về nhà thăm hiền mẫu. Ngài qua đời tại Cremona lúc 36 tuổi.

Ngày 04 Tháng 07 Năm 1775-1838, Giuse Nguyễn Đình Uyển Thầy Giảng Dòng Đaminh Tử Đạo.


* Niềm tin sống lại.
 Hạnh tích thánh Giuse Uyển, vị thầy giảng 63 tuổi cho chúng ta thấy niềm tin vào ngày “xác loài người sống lại” các tử đạo khi phải đối diện với cái chết. Đó là một ngày vinh hiển cho những ai trung thành giữ đạo thánh Chúa. Lúc mới bị bắt quan tỉnh Hưng Yên dọa chém đầu, thầy mạnh dạng trả lời: “Bẩm quan lớn, tôi có bị chém chết mới trông được sống lại ngày mai”. Lần khác sau cuộc tra tấn vô hiệu, một người lính rút gươm ra dọa chém ngay cổ, thầy Uyển vẫn bình tĩnh, mặt không hề biến sắc. Người lính hỏi: “Lão không sợ ta chém ư ?”. Thầy điềm nhiên tuyên xưng niềm tin của mình: “Hãy chém đi đến ngày phán xéttôi sẽ có một cái đầu mới”.
 * Thầy phòng bộ và thầy sở.
 Giuse Nguyễn Đình Uyển sinh năm 1775 tại làng Ninh Cường tỉnh Nam Định, lớn lên ngài vào sống trong chủng viện Tiên Chu và được gởi đến cha Nhân. sau chính thức là thầy giảng và trợ tá đắc lực của Đức cha Henares Minh (giáo phận Đông Đàng Ngoài). Theo lời khuyên của Đức cha, thầy gia nhập dòng ba Đaminh. Mỗi lần Đức cha đi kinh lý các giáo xứ trong giáo phận đều cho thầy tháp tùng. Mọi người gặp thầy đều ca tụng đời sống gương mẫu, đặc biệt trong việc giữ kỷ luật dòng ba và tinh thần tông đồ của thầy. Năm 1838, khi cuộc bách hại bùng nổ ở Đông Đàng Ngoài, hai giám mục và các linh mục phải tìm đường lẫn tránh. Đức cha Minh chính thức giao cho thầy Uyển trách nhiệm coi sóc giáo xứ Tiên Chu, dù thầy không có chức thánh vẫn chu toàn đầy đủ trách nhiệm đặc biệt này, điều khiển mọi sinh hoạt trong xứ, khích lệ các tín hữu giữ niềm tin, được Đức cha và các tín hữu yêu mến tín nhiệm.
 Ngày 29.05.1838, quan quân đến vây làng Tiên Chu tìm bắt Đức cha phó. Họ ra lệnh cho mọi người có đạo trình diện ở đình làng để điểm danh. Thầy Uyển cũng ra trình diện với giáo hữu của mình. Vì vô ý để lộ ra khỏi cổ chiếc áo dòng ba, thầy bị quan gọi riêng ra hỏi: “Ông có phải đạo trưởng không?”. Thầy trả lời: “Không”. Một người lính đùa giỡn tới vuốt mũi thầy và nói: “mũi ông này dài chắc là cố Tây chứ chẳng sai”. Thầy Uyển lắc đầu tỏ vẻ phản đối  nhưng không nói gì cả. Tiếp theo quan bảo thầy bước qua Thánh Giá, nếu không sẽ bị chém đầu. Thầy Uyển từ chối và tuyên xưng niềm tin của mình. Quan nổi giận truyền trói thầy rồi đến chiều cho giải lên Hưng Yên. Quan tuần phủ Hưng Yên điều tra sơ khởi xem thầy có chức bậc nào và ai truyền chức ? Các thừa sai trốn ở đâu ?.thầy không đáp một lời nên bị đóng gông giam vào ngục.
 * Gian truân nghìn nỗi.
Hôm sau, thầy Uyển bị dẫn ra toà. Quan án nghiêm nghị truyền thầy bỏ đạo và ký giấy xuất giáo. Nhưng vị anh hùnh đức tin cương quyết trung thành với Chúa. quan cho đánh 39 roi rồi hỏi về đạo. Thấy Giuse Uyển lợi dụng cơ hội giải thích cho mọi người có mặt về 10 điều răn Chúa. tối đến thầy lại bị tống giam vào ngục. Vì bị bệnh tả rất nặng, cộng thêm với trận đòn ban ngày, thấy rũ liệt gần chết, quan án thương tình cho mời lương y đến chữa trị.
 Mười lăm ngày sau, khi cơn bệnh mới tạm khỏi, quan lại cho điệu tù nhân ra tòa. Quan nói: “Ông Uyển hãy xuất giáo, ta sẽ tha về với vợ con”. Thầy đáp: “Tôi không có vợ con”. Quan tòa quát lên: “Bước qua Thập Giá đi để giữ lấy mạng sống, con chó còn ham sống dù chỉ một ngày, huống chi con người.”  Vị chiến sĩ anh hùng trả lời: “Nếu quan để sống thì tôi cám ơn quan, còn việc bước qua Thánh Giá thì tôi không làm”. Quan cho đánh 18 roi rồi nói: “Chỉ một bước là sống, sao ông không chịu?”. Thầy trả lời: “Tôi coi sự sống đời này chỉ lớn bằng ngón tay thôi”.
 Thế là quan nổi giận cho lính dùng sưc mạnh lôi thầy qua Thánh Giá. Thầy bèn ngồi bệt xuống đất, mặc cho quân lính đánh đập. Bốn người lính với hai đầu gông mới khiêng thầy lên nổi. Thầy Uyển co gập hai chân để khỏi chạm vào Thánh Giá, đồng thời cầu nguyện xin Chúa giúp sức. Một viên quan truyền lệnh: “Cắt bộ râu nó đi”. Anh lính đứng gần đó liền nắm râu của thầy, tay kia định xén, nhưng thấy cụ già mệt và sắp chết nên lại thôi. Sau đó còn một lần quan bảo thầy Uyển xuất giáo, nhưng mọi lần quan lại thấy chí khí của thầy. Ông không dấu được lòng thán phục phải thốt lên: “Bề ngoài hắn như kẻ sắp chết, thế mà lòng dạ lại cương quyết lạ lùng”. Rồi ông cho đeo gông nặng hơn, tống giam vào ngục và gởi án về kinh  xin xử trảm, bản án nhắc đến Phanxicô Chiểu đã bị chém ngày 20.06 và xin vua phê một án tương tự.


* Phúc trường sinh.
Trong khi chờ bản án được châu phê, thầy Uyển còn bị cắt giảm phần ăn mỗi ngày. Thân xác kiệt quệ vì đòn roi, vì đói khổ, vì bệnh hoạn, vì tuổi già. Thầy Giuse Uyển vẫn một lòng  kiên vững với niềm tin sắt đá của mình. Thế rồi hồi ba giờ chiều ngày 04.07.1838, ngài đã chết rục tù trong niềm tin vững mạnh đó. Tuy chưa bị xử trảm  nhưng cái chết khổ đau của thầy Giuse thật xứng đáng đội triều thiên vinh  phúc tử đạo. Các quan cho phép các tín hữu đưa thi hài về an táng tại xứ Tiên Chu, nơi đã từng sống với  họ trong những ngày lo âu gian khổ nhất.

 Đức Lêô XIII suy tôn thầy giảng dòng ba Đaminh Giuse Nguyễn Đình Uyển lên bậc chân phước ngày 27.05.1900. Ngày 19-06-1988, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh.

Thứ Bảy Tuần XIII Thường Niên Mt 9,14-17.



Lời Chúa: Chẳng lẽ khách dự tiệc cưới lại có thể than khóc, khi chàng rể còn ở với họ.
Ha-lê-lui-a. Chúa nói: Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng, và chúng theo tôi. Ha-lê-lui-a.
Tôi quá rõ: Chúa thật là cao cả,
Chúa chúng ta vượt trên hết chư thần.
Muốn làm gì là Chúa làm nên,
chốn trời cao cùng nơi đất thấp,

lòng biển cả và đáy vực sâu.

Ngày 04/07 –  Thánh Elizabeth Bồ Đào Nha (1271-1336)
Elizabeth thường được mô tả trong trang phục hoàng gia với con chim bồ câu hoặc cành lá ôliu. Khi bà sinh năm 1271, cha bà là Pedro III, vua tương lai của Aragon, hòa giải với ông nội bà là James, nhà vua đang tại vị. Vì ảnh hưởng sức khỏe trong những năm đầu đời, bà biết sống có kỷ luật cần thiết cho tâm linh. Lúc 12 tuổi, bà được hứa hôn với Denis, vua của Bồ Đào Nha. Nhưng bà tự phát triển cách sống trong tình yêu Thiên Chúa, không chỉ bằng lòng yêu thương, kể cả qua thánh lễ hàng ngày, mà còn qua việc thực hành bác ái, nhờ đó bà có thể thân thiện và giúp đỡ khách hành hương, người lạ, bệnh nhân, và người nghèo. Bà tận tụy với chồng, nhưng chồng bà không chung thủy và tạo ảnh hưởng xấu tới vương quốc.
Bà tìm sự bình an cho chồng nơi Thiên Chúa. Cuối cùng bà được ơn Chúa là chồng bà bỏ đàng tội lỗi. Bà cố gắng kiến tạo hòa bình giữa Ferdinand, vua của Aragon, và người anh em của vua Ferdinand là James, vì James muốn tiếm ngôi. Sau khi chồng mất, bà vào dòng Phanxicô thánh Clara.

Thứ Tư, 1 tháng 7, 2015

Ngày 03 Tháng 07 Năm 1815-1853, Philiphê Linh Mục Phan Văn Minh Tử Đạo.


* Lời nguyện là thần lương.
Bên kia bờ sông Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long trước khi đến Cái Sơn Bè, theo thói quen người ta dọn một bữa ăn ngon cho tử tội trước khi xử trảm. Nhưng tử tội linh mục Philphê Minh đã từ chối, chẳng phải lo sợ hãi nuốt không nổi, vì trên đường ra pháp trường cha đã chẳng luôn hiên ngang tươi cười đó sao ?
Thế nhưng chỉ còn ít phút nữa để hoàn thành sứ mạng nơi trần thế, ít phút nhưng không phải khoảng thời gian tầm thường, ít phút là cao điểm của một kiếp nhân sinh. Để sống trọn vẹn vài phút đó, cha Minh đã chọn một thức ăn khác, như một thứ lương thực cần thiết cao quý hơn : cha quỳ xuống ngửa mặt lên trời âm thầm cầu nguyện. Và sau bữa ăn tâm linh cuối cùng, cha nói ngắn gọn với lý hình : “Đã xong rồi.”

Một hồi chiêng trống vang lên, thời gian như chùng lại trang trọng và linh thiêng trong giờ phút cuối cùng của đời cha. Những giây phút thật ý nghĩa, thật trọn vẹn thật tràn trề trôi qua, cha được bước vào cõi hạnh phúc vĩnh cửu sau khi lý hình vung nhát gươm kết liễu cuộc hành trình làm chứng cho Đức Kitô.


* Soạn giả từ điển.
Sinh trưởng trong một gia đình đạo đức và lễ nghĩa thuộc làng Cái Mơn, huyện Mỏ Cày, tỉnh Vĩnh Long, năm Ất Hợi (1815). Philiphê Phan Văn Minh con ông Đaminh Phan Văn Đức và bà Anna Tiếu, là người con út trong gia đình có 14 anh chị em. Cha mẹ cậu mất sớm mọi việc trong nhà đều do một mình người chị đảm đang “người chị thư’ hai” này đã lo cho các em cả về vật chất lẫn tinh thần. Cậu Minh được học hỏi giáo lý chu đáo để rước lễ lần đầu, rồi lãnh nhận bí tích thêm sức năm 13 tuổi. Sau đó cậu được Đức Cha  Tabert Từ, nhận cậu cho đi học chủng viện Lái Thiêu. Nhưng chỉ ít lâu, do sắc lệnh cấm đạo 1833 của vua Minh Mạng chủng viện phải giải tán.
Thời gian này thầy Minh được theo Đức cha Từ qua Thái Lan, rồi đến trọ tại chủng viện Pénang, Mã Lai. Thầy có vinh dự được Đức Cha gọi qua  Calcutta (Ấn Độ) để hợp tác với ngài soạn bộ từ điển LaTinh – Việt Nam năm 1838. khi Đức Cha qua đời thầy lại trở về Pénang tiếp tục học thần học, các giáo sư và bạn đọc đều quý mến thầy, một sinh viên xuất sắc, học giỏi và có tinh thần đạo đức.
* Vị tông đồ hăng say.
Hết thời gian học tại Pénang, thầy Minh trở về nước và được Đức Cha Cuênot Thể, truyền chức linh mục năm 1840 tại Gia Hữu. Sau khi vua Minh Mạng băng hà, giáo hội được hưởng một thời kỳ an bình dễ chịu hơn. Vua Thiệu Trị lên ngôi tuy không huỷ bỏ những sắc lệnh cấm đạo, nhưng không gắt gao thi hành như trước nữa. Nhờ đó cha Minh có thể đi thăm viếng, dạy kinh cho các tín hữu ở vùng Tiền Giang, Hậu Giang. Những làng như  Đầu Nước, Xoài Mút, Chợ Búng, Ba Dòng, Cái Nhum, Cái Mơn, Bãi San, Chà Và, Mặc Bắc đều còn ghi dấu chân truyền giáo của cha. Khi vua Tự Đức lên ngôi năm 1847, việc cấm đạo vẫn lắng dịu ít lâu. Nhưng sau đó lại trở nên dữ dội hơn bao giờ hết.
Sau chiếu chỉ tháng 08.1848, và nhất là chiếu chỉ tháng 03.1851 truyền phải chém đầu thả trôi sông Tây dương đạo trưởng, tra tấn và xử tử các  các giáo sĩ bản quốc cố chấp, phát lưu những người theo giatô tả đạo. Vua còn ghi rõ các quan phải triệt để thi hành mệnh lệnh này.
Trong tình hình hết sức khó khăn đó, cha Minh vẫn bình tĩnh chu toàn bổn phận của một mục tử : cha vẫn đi lại khuyến khích các tín hữu, mở các lớp giáo lý và trao ban các bí tích.
Khi đó ở làng Mặc Bắc, có một người tên Nhẫn, vì có lần xin tiền cha Lựu không được, nên để tâm thù oán và đi tố giác với quan. Ngày 26.02.1853, quan sai lính đến vây nhà ông trùm Lựu nhưng cha Lựu đã đi nơi khác, còn cha Minh và vài chủng sinh đang ở trọ đó. Để cứu cha Minh ông trùm Lựu đứng ra nói : “Thưa quan không có đạo trưởng Lựu ở đây. Lựu chính là tên tôi.” Họ thấy dáng dấp cụ chỉ là nông dân lam lũ, nên tiếp tục đi lục soát khắp nhà. Khi đó cha Minh sợ quan quân, vì mình mà hại gia đình ông Trùm, nên ra mặt nhận mình là linh mục. Thế là cùng với bảy vị chức sắc trong vùng, cha bị bắt trói và đeo gông và đẩy đưa xuống thuyền đưa về giam tại tỉnh Vĩnh Long. Tại đây quan tổng đốc hạch hỏi cha về các linh mục khác, những nơi đã trú ẩn, nhưng không khai thác được gì cả. Những ngày sau quan dùng mọi cách, khi thì dụ dỗ khi thì dọa nạt, khi quân lính kéo cha qua khỏi Thập Giá để bắt cha chối đạo. Nhưng cha Minh vẫn giữ lập trường của mình, trung thành với Đức Kitô và gíao hội. Thấy cha còn trẻ mới 38 tuổi, lại hiền lành học thức, các quan muốn tìm cách cứu cha, họ không bắt cha bước qua Thập Giá nữa chỉ cần cha nói miệng là “đã bỏ đạo” cũng được tha. Nhưng cha Minh một mực từ chối đề nghị này.

* Đường về trời.
Không thể làm gì hơn được, các quan cho lính đưa  cha về giam tại Tuyên Phong chờ ngày lãnh án. Nghe án xử từ kinh đô đã gửi về cha Minh quỳ gối tạ ơn Chúa, rồi an ủi các anh em bạn tù nên vui lòng tuân theo ý Chúa, hẹn tái ngộ trên nước trời. Cha nói : “Xin anh em vững dạ cậy trông Chúa, ngài chẳng từ bỏ ai và ngài sẽ thưởng công bội hậu cho những ai tận tâm tôn thờ ngài”. Cha cũng căn dặn một tín hữu ở ngoài : tiền bạc của cha nếu còn lại, đừng phí tổn ma chay lớn làm chi, cứ đem phân phát hết cho người nghèo. Cuối cùng ngày mong đợi của cha đã đến. Cha vui vẻ lần chuỗi tiến ra pháp trừơng, qua bờ Sông Long Hồ đến Cái Sơn Bé, quân lính dọn bữa ăn sau cùng, nhưng cha Minh không thiết gì nữa. Cha chăm chú cầu nguyện, sau hồi chiêng trống rền vang. Lưỡi gươm lý hình đã đưa linh hồn vị anh hùng tiến thẳng về thiên Quốc. Lời nguyện cầu thánh thiện sau hết của cha Minh còn âm vang trong lòng những người hiện diện. “Lạy Chúa xin thương xót con, lạy Đức Giêsu, xin cho con sức mạnh và can đảm chịu khổ để vinh danh ngài. Lạy Mẹ Maria xin nâng đỡ con “.
Hôm đó là ngày 03.07.1853. thi thể vị tử đạo được đưa về an táng dưới nền một nhà thờ mới bị đốt phá ở Cái Mơn. Năm 1960, di cốt ngài được đưa về Vương Cung Thánh  Đường Sài Gòn trong dịp lễ cung hiến.
Đức Cha Lêo XIII suy tôn cha Philiphê Phan Văn Minh lên bậc chân phước ngày 27.05.1900. Chủng viện giáo phận Vĩnh Long đã nhận thánh Philiphê Phan VănMinh làm bổn mạng, vào ngày 19 tháng 06 năm 1988 Đức Giáo Hoàng Gioan Phao lô II đã suy tôn ngài bậc Hiển Thánh.

Thứ Sáu Thánh Tôma Tông Đồ Lễ kính Ga 20,24-29.


Lời Chúa: Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con !
Ha-lê-lui-a. Chúa nói: Này anh Tôma, vì đã thấy Thầy nên anh mới tin. Phúc thay những người không thấy mà tin. Ha-lê-lui-a.
Muôn nước hỡi nào ca ngợi Chúa,
ngàn dân ơi, hãy chúc tụng Người !
Vì tình Chúa thương ta thật là mãng liệt,

lòng thành tín của Người bền vững muôn năm.

Ngày 03/07 –  Thánh Tôma, Tông đồ
Tội nghiệp thánh Tôma! Ngài đã từng bị gắn mác là “Tôma đa nghi”. Nhưng nếu ngài không nghi ngờ thì ngài cũng tin. Ngài nói một câu minh nhiên nhất trong Tân ước: “Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con!” (x. Ga 20:24-28), đó là câu tuyên xưng đức tin đã cho các tín hữu một lời cầu nguyện mãi mãi cho đến tận thế. Ngài cũng gợi ra một lời khen của Chúa Giêsu dành cho các tín hữu: “Phúc thay những người không thấy mà tin!” (Ga 20:29).
Thánh Tôma có tiếng là can đảm. Có thể điều ngài nói là mạnh mẽ – vì ngài chạy, cũng như những người khác, khi bị thử thách – nhưng ngài có thể không thành thật khi ngài bày tỏ sự sẵn sàng chết với Chúa Giêsu. Cơ hội là khi Chúa Giêsu đề nghị đi tới Bêtania sau khi Ladarô đã chết. Vì Bêtania gần Giêrusalem, nghĩa là đi bộ ngay giữa lòng quân thù và hầu như là chết chắc! Nhận ra điều này, thánh Tôma đã nói với các tông đồ: “Cả chúng ta nữa, chúng ta cũng đi để cùng chết với Thầy!” (Ga 11:16b).