Thứ Năm, 4 tháng 6, 2015

Ngày 05/06/1840 Linh Mục Luca Vũ Bá Loan Tử đạo.


Linh Mục Luca Vũ Bá Loan

Truyện tử đạo thánh Luca Vũ Bá Loan, vị niên trưởng trong số 117 vị tử đạo Việt Nam được tôn phong, là một trong những bằng chứng cụ thể nhất về sự phi lý của các bản án tử đạo. Ngài bị giết chỉ do án lệnh của triều đình, trong khi tại địa phương mọi người đều kính yêu vị linh mục già 84 tuổi râu tóc bạc phơ, hiền lành đôn hậu.
Ngày xử tử 2 người lính tình nguyện đưa cáng gánh cha ra pháp trường, cả mười người lý hình được chén đầu cha đều bỏ trốn dù biết sẽ bị phạt, và viên đao phủ thứ 11 chỉ dám thi hành phận sự sau khi xin lỗi và nói với cha rằng mình bị bó buộc miễn cưỡng mà thôi. Đức tin kiên vững  là sức mạnh chiến thắng mọi gian lao thử thách, sở dĩ các anh hùng tử đạo chịu nổi mọi cực hình, tù ngục chết chóc, là các Ngài tin tưởng vào Chúa một cách mạnh mẽ và kiên cường. Các Ngài tin chắc rằng, qua những hình khổ tạm bợ này, các Ngài sẽ được hưởng hạnh phúc muôn đời bất diệt, sau cái chết chóng qua này, các Ngài sẽ sống mãi ngàn thu.
Cha Luca Vũ Bá Loan sinh năm 1756 tại Bút Quai xứ Bút Đông, thuộc địa phận Tây Đàng Ngoài. Ngay từ nhỏ, cậu đã được Chúa gọi dâng mình giúp việc nhà Chúa, cậu tu học ở Phú Đa và Kẻ Bèo, sau khji mãn khóa thần học, thầy Loan được thụ phong linh mục, và đi giúp xứ Nam Sang, rồi đến Kẻ Vời, rồi năm 1828 Đức Cha sai đến giúp xứ Kẻ Sở và ở đó cho đến khi bị bắt.
Đời linh mục được ướp nồng bằng kinh nguyện, cha là một linh mục gương mẫu về đức mến Chúa yêu người, luôn luôn nhiệt thành phụng sự Chúa và phục vụ các tín hữu, ngoài việc ban phát các bí tích cho giáo dân, cha rất chuyên cần cầu nguyện và giảng dạy, cầu nguyện đối với cha là tối cần thiết trong công việc tông đồ, có cầu nguyện và sống kết hợp với Chúa, thì lời giảng dạy mới đánh động được lòng người, mới cải hóa tâm hồn giáo dân. Song song với những kinh nghiệm là cha thường đi thăm những người nghèo khó, bệnh tật, cha tận tâm nuôi dạy một vài em hiền lành, nhanh nhẹ để chuẩn bị cho linh mục tương lai. Cha nhiệt thành hướng dẫn, giúp đỡ các tín hữu sống thân ái với mọi người, dù có đạo hay không đạo. Cha khuyết khích an ũi các tín hữu bê bói trễ nãi. Đức Cha Jeantet Khiêm, ca tụng cha rằng: “ Thầy xét các việc cha Loan làm từ khi chịu chức linh mục cho đến ngày tử đạo, thầy thấy có lẽ trong số linh mục Việt Nam từ trước đến nay không ai sánh bằng.”
Lúc đó ở Kẻ Sở có hai người ngoại giáo tên là Đổ Cang và bá hộ Kiểng đã vi phạm luật nhà nước đang chờ ngày xét xử, họ biết vua Minh Mạng cấm đạo, nên bàn tính với nhau bắt cha Loan nộp cho quan để lập công chuộc tội, Thế là ngày 10 tháng 01 năm 1840 họ giả vờ đến thăm cha rồi bắt cha xuống thuyền chở đi, giáo hữu nghe tin cha bị bắt, thì vội vàng thu góp tiền đi chuộc cha. Nhưng họ đòi tới 2000 quan, các tín hữu không chuộc nổi, nên họ đem cha nộp cho quan huyện Phú Xuyên, quan huyện thấy cha già yếu thì không nhận, nên họ phải điệu cha thẳng đến Thăng Long. Vừa đến công đường, quan đầu tỉnh chỉ thẳng mặt 2 ông mà mắng rằng: “ Quân dại dột, sao ngươi đang tâm bắt người hiền lành đạo đức, lại đáng tuổi cha ông chúng bây thế này ?” các quan thấy cha tuổi già sức yếu thì rất kính nể, nhưng gì vua ra lệch cấm đạo và việc cha bị bắt đã công khai, nên đành phải cho gian vào ngục, như căn dặn lính gác: “ Cụ già cả, tuổi cao sức yếu, phải đối xử tử tế, không được vô lễ hành hạ Cụ, cũng chớ cấm người ta thăm viếng chăm sóc Cụ.”
Nhờ đó trong những ngày tháng tù ngục, cha Loan luôn được giáo dân ra vào thăm nuôi giúp đỡ, nhưng cha không dùng hết các quà biếu cho riêng cha, mà cha rộng rãi chia sẽ cho lính canh và các bạn tù, nên họ rất quý mến cha và càng đối xử dễ dàng hơn. Hai lần cha bị điệu ra tòa, nhưng thay vì tra khảo đánh đập, các quan chỉ hỏi qua lý lịch và khuyên bảo cha bước qua thập giá để thả cha, nhưng cha nói: “ Các quan biết rỏ tôi là đạo trưởng, và tôi đã phụng sự Chúa đến tuổi già này, làm sao tôi có thể bước qua Thánh Giá mà chối bỏ Chúa tôi cho được ?” Quan hỏi: “ Sao cụ thờ Chúa của người Pháp ?” Cha Loan đáp: “Tôi chẳng thờ Chúa của nước nào cả. Mà tôi thờ Chúa Cả Trời Đất, Chúa của muôn dân muôn nước khắp cả hoàn cầu.” Thấy cha cương quyết không bỏ đạo, các quan buộc lòng làm án trảm, gởi trình lên vua Minh Mạng.


Trong thời gian chờ đợi vua phê chuẩn bản án, cha bị gian giữ trong ngục, vì tuổi già sức yếu, lại ở nơi chật hẹp dơ bẩn, nên cha ngã bệnh nặng, cộng với căn bệnh suyễn kinh niên làm cha kiệt quệ, viên cai ngục sợ cha chết trong tù, nên xin quan cho giáo hữu họ Chuông Trung, chăm sóc chacho đến ngày d9uo7c54 lệnh xử tử. Đó là ngày 05 tháng 06 năm 1840, rồi sao đó 2 hay 3 giáo xứ, xin thi hài cha cho xứ của mình. Cha cười và nói: “ Xác tôi cũng là tro bụi, chết rồi cũng tanh hôi cho vòi bọ rúc rỉa, các ông xin làm chi ?” Thế như cha cũng đồng ý cho họ Chuông Trung thuộc giáo xứ Kẻ Chuôn, được lo liệu mai táng khi cha được Chúa lãnh phúc tử đạo.
Viên quan giám sát chủ trì phiên xử, thấy cha đi bộ cũng bỏ ngựa, giao cho một người lính rồi cùng đi bộ ra Ô cầu giấy là nơi thi hành bản án, đến nơi ông nói với cha: “ Cụ muốn làm vì thì làm đi” Cha Loan quỳ xuống cầu nguyện rồi vui vẻ đưa tay cho lính trói vào cọc. Mười người lính được chỉ định chém cha Loan bổng trốn đi hết, để giải quyết nhanh, quan liền sai người lính nam bộ tên là Minh. Người lý hình bất đắc dĩ sụp lạy cha Loan và biện bạch rằng: “ Việc vua truyền chúng cháu phải làm, xin Cụ xá lỗi cho, cháu cố giúp Cụ chết êm ái, khi về trời Cụ nhớ đến cháu nhé.” Cha Loan gật đầu và ra hiệu cho anh thi hành phận sự, các tín hữu xong vào cởi áo thấm máu vị tử đạo như một chứng tích anh hùng, của một người cha tuy già yếu nhưng mạnh mẽ về niềm tin
Ngày 27 tháng 05 năm 1900 Đức Thánh Cha Lêô XIII đã suy tôn cha lên bậc chân phước. và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tôn phong cha lên bậc Hiển Thánh ngày 19 tháng 06 năm 1988

Ngày 05/06/1862 Hai Ngư Phủ Đaminh Đổ Minh Toại & Đaminh Đổ Minh Huyên Tử đạo.

 Đaminh Đổ Minh Toại Ngư Phủ

Các thánh tử đạo Việt Nam phải chịu nhiều hình khổ khác nhau, ngoài gông cùm ra, tù ngục, đòn roi, các ngài có thể bị chém đầu, xẻo thịt, thiêu sống. Trong số 117 Hiển Thánh tử đạo, phần đông bị trảm quyết, chỉ có 6 vị bị thiêu sống, Đaminh Toại, Đaminh huyên là 2 vị đầu tiên chịu khổ hình này, để được trở nên của lễ toàn thiêu dâng lên Thiên Chúa, như thánh Polycarpo xưa, 2 vị đã tin tưởng rằng: “ Đấng đã giúp tôi quyết định chịu đau khổ vì Ngài, sẽ cho tôi sức mạnh. Ngài sẽ làm cho lửa dịu lại và cho tôi đủ sức lướt thắng mọi thử thách.”
Đaminh Toại sinh năm 1812 và Đaminh Huyên sinh năm 1817, hai ông đều là giáo hữu họ đạo Đông Thành tỉnh Thái Bình, thuộc giáo phận Trung Đàng Ngoài, cả 2 người đều có gia đình là những gia trưởng đạo đức sốt sắng, luôn nêu gương mến Chúa yêu người. Các ông sống bằng nghề đánh cá, hằng ngày chài lưới trên sông Nhị Bình ở gần cửa Ba Lạt, tánh tình đơn sơ lương thiện, 2 ông đều được các bạn đồng nghiệp và mọi người yêu thương khen ngợi.

Đaminh Đổ Minh Huyên Ngư Phủ

Tháng 08 năm 1861 vua Tự Đức bắt đạo gắt gao, nhà vua ra chiếu chỉ PHÂN SÁP, nhằm tận diệt người theo đạo công giáo, theo chiếu chỉ này, quân lính và người ngoại giáo được phép vào các làng công giáo tịch thu tài sản và bắt các giáo hữu đem nộp cho quan, để khắc hai chử TẢ ĐẠO lên gò má. Lúc đó, quân lính và người ngoại giáo kéo nhau vào họ đạo Đông Thành, sau khi vơ vét tài sản của người công giáo ở đây, họ bắt nhiều người đem nộp cho quan huyện, trong số đó có Đaminh Toại- Đaminh Huyên. Ông Toại bệnh tật đi lại không nổi, họ bảo ông nộp tiền chuộc, họ sẽ thả ông về gia đình. Nhưng 2 ông nghĩ đây là cơ hội tốt để xưng đạo thánh Chúa trước mặt thiên hạ, và vì 2 ông muốn cùng các đồng đạo tuyên xưng danh Chúa, dẫu phải trả giá bằng cuộc sống để làm chứng cho đạo Chúa là đạo thật.
Quân lính dẫn 2 ông đến huyện Quỳnh Côi, và giam vào ngục chờ ngày xét xử, suốt chín tháng bị giam trong ngục, các ông phải đói khát, xiềng xích, gông cùm khổ sở, như không bao giờ than thở buồn phiền, mà lúc nào cũng vui vẻ, sẵn sàng chịu gian lao khốn khó, trước là để lập công nghiệp, sau là để nêu gương can đảm hy sinh cho các bạn đồng đạo cùng bị giam trong ngục. Chẳng những thế, 2 ông còn thường xuyên an ủi, khích lệ các bạn bền tâm giữ vững đức tin: “ Nào anh em hãy can đảm lên, chúng ta chịu khổ vì Đức Ki-tô, nên chúng ta phải đón nhận đau khổ một cánh nhẫn nại. Chúng ta phải bền chí đến cùng và nếu cần sẵn sàng hy sinh mạng sống vì danh Chúa.
Trong thời gian bị giam giữ, nhiều lần hai ông bị điệu ra công đường, tra tấn đánh đập và buộc phải bước qua Thánh Giá để chối Chúa bỏ đạo, nhưng dù bị đòn đau đớn, các ông dẫn can đảm trung thành với Chúa, các quan thấy cực không lay chuyển được lòng tin của các ông, thì tìm cách dụ dỗ, hứa trả tự do và ban cho nhiều tiền của, nếu các ông đạp lên Thánh Giá, các ông nói: “ Của cải đời này nay còn mai mất, không thể đem lại cho chúng tôi hạnh phúc vững bền, chỉ có Chúa mới làm cho chúng tôi sống đời đời, được hưởng hạnh phúc muôn đời. Chúng tôi quyết tin theo Chúa để được Ngài thương ban hạnh phúc vĩnh viễn đó” Các quan nổi giận kết án thêu sống 2 ông, án đó chẳng những không làm khiếp sợ, mà còn tăng thêm hân hoan phấn khởi cho các ông. Và các ông hết lòng cảm ơn Chúa, vì Người đã thương cho các ông trở nên của lễ toàn thêu dâng tiến Chúa, để làm chứng cho Chúa và cứu rổi các linh hồn.


Sáng ngày 05 tháng 06 năm 1862 đúng ngày ký hòa ước Nhâm Tuất nước Pháp buộc triều đình Việt Nam phải cho tự do hành đạo, 2 ông Đaminh Toại và Đaminh Huyên vui vẻ bước lên giàn hỏa thiêu dâng hiến đời mình cho Chúa. Trong khi ngọn lửa bóc cháy bừng bừng, các ông hoan hỷ cất tiếng ngợi khen và cầu xin Chúa ban ơn thêm sức cho chịu nổi cực hình ghê tởm này, và các đã từ từ ngã gục trong đóng lửa …
Ngày 29 tháng 04 năm 1951 Đức Cha Piô XII tôn phong hai ông lên chân phước, Và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nâng các ngài lên bậc Hiển Thánh ngày 19 tháng 06 năm 1988.

Thứ Sáu Tuần 9 Thường Niên Mc 12,35-37.



Lời Chúa: Sao người ta nói Đức Ki-tô là con vua Đa-vít.
Ha-lê-lui-a Chúa nói: Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến với người ấy. Ha-lê-lui-a.
Chúa giải phóng những ai tù tội,
Chúa mở mắt cho những kẻ mù lòa.
Chúa cho kẻ bị dìm xuống đứng thẳng lên,
Chúa yêu chuộng những người công chính.
Chúa phù trợ những khách ngoại kiều,

Người nâng đỡ cô nhi quả phụ.


Ngày 05/06 – Thánh Boniface, Giám mục (672?-754)
Thánh Boniface được biết đến là tông đồ của người Đức. Ngài là tu sĩ Dòng Biển Đức, và được chọn làm tu viện trưởng. Ngài dành cả đời để hoán cải các bộ lạc ở Đức. Ngài có 2 đức tính nổi bật: tuân thủ chính thống Kitô giáo và trung thành với Giáo hoàng La Mã.
Sự chính thống và lòng trung thành này tạo ra các điều kiện mà ngài thành lập trong hành trình sứ vụ đầu tiên năm 719 theo yêu cầu của ĐGH Grêgôriô II.
Có những điều kiện mà thánh Boniface tường trình năm 722 trong lần đầu tiên đến thăm Rôma. ĐGH hướng dẫn ngài cải cách Giáo hội Đức và gởi thư khuyên răn các tín hữu và các lãnh đạo nhà nước. Về sau ngài nói là công việc của ngài không thành công, theo quan điểm của con người. Rồi ngài được tấn phong giám mục cai quản và tổ chức cả Giáo hội Đức rất thành công.
Tại vương quốc Frank, ngài gặp nhiều rắc rối vì có sự can thiệp của phần đời trong việc bầu chọn giám mục, các giáo sĩ thiếu sự kiểm soát của giáo hoàng. Trong sứ vụ cuối cùng tại Frisian, ngài và 53 người khác bị tàn sát khi ngài chuẩn bị ban bí tích Thêm sức.
Để bảo đảm Giáo hội Đức trung thành với Rôma và hoán cải người ngoại giáo, ngài theo 2 quy luật: Một là duy trì đức vâng lời của các giáo sĩ đối với các giám mục hiệp thông với Rôma, hai là thiết lập nhiều nhà cầu nguyện theo kiểu tu viện Biển Đức. Nhiều nam nữ tu sĩ Anglo-Saxon theo ngài tới lục địa. Ngài giới thiệu cách giáo dục với các nữ tu Biển Đức để làm việc tông đồ.

Thứ Ba, 2 tháng 6, 2015

Thứ Năm Tuần 9 Thường Niên Mc 12,28b-34.



Lời Chúa: Chẳng có điều răn nào khác quan trọng hơn các điều răn đó.
Ha-lê-lui-a Đấng cứu độ chúng ta là Đức Giê-eu Ki-tô đã tiêu diệt thần chết, và đã dùng Tin Mừng mà làm sáng tỏ phúc trường sinh. Ha-lê-lui-a.
Tất cả đường lối Chúa đều là yêu thương và thành tín
đối với những kẻ nào giữ giao ước và lề luật Chúa
Chúa xử thân tình với những ai kính sợ Chúa

và cho họ biết giao ước của Người.


Ngày 04/06 – Thánh Charles Lwanga và các bạn tử đạo (qua đời năm 1886)
Một trong 22 vị tử đạo của Uganda là thánh Charles Lwanga. Ngài là bổn mạng giới trẻ và hoạt động Công giáo ở hầu hết các nước Phi châu. Ngài bảo vệ các bạn tiểu đồng (từ 13 tới 30 tuổi) khỏi các nhu cầu đồng tính của nhà cầm quyền Baganda là Mwanga, ngài khuyến khích và hướng dẫn họ trong đức tin Công giáo ngay trong nhà tù vì tội từ chối yêu cầu của nhà lãnh đạo.
Vì từ chối hành động vô luân và bảo vệ đức tin cho các bạn, thánh Charles bị thiêu tại Namugongo ngày 3-6-1886 theo lệnh của Mwanga.
Ngài biết đến giáo huấn của Chúa Kitô nhờ 2 cận thần của thẩm phán Mawulugungu. Ngài được vào hoàng cung để giúp Joseph Mukaso, trưởng nhóm tiểu đồng.
Vào đêm Mukaso chịu tử đạo vì khuyến khích giới trẻ Phi châu chống lại Mwanga, thánh Charles xin lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy. Bị tù với các bạn, ngài can đảm và tin Chúa đã linh hứng cho họ giử đức khiết tịnh và đức tin.
Trong lễ phong thánh cho 22 vị tử đạo ngày 18-10-1964, CP Giáo hoàng Phaolô VI đã nhắc đến các tiểu đồng của Anh cũng chịu tử đạo vì cùng lý do đó.

Ngày 03/06/1802-1862 Nông Dân Phaolô Đổng Tử đạo


Nông Dân Phaolô Đổng

Phaolô Ðổng (Dương), sinh năm 1802 tại Vực Ðường, Hưng Yên. Ngài Trùm họ, bị xử trảm ngày 03.6.1862 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Tự Ðức. Ngài được phong Chân Phước ngày 29.4.1951 do Ðức Piô XII. Ngày 19.6.1988 Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh. Lễ kính vào ngày 03 tháng 6.
* Bất khuất vì chính đạo
Một trong năm điều gay go trong chiếu chỉ cấm đạo của vua Tự Đức ban hành ngày 05.08.1861, là mỗi tín hữu Kitô giáo chịu thích chữ vào hai bên má, một bên chữ "tả đạo", còn bên kia là tên xã huyện của người đó. Lối thích tự bằng thanh sắt nung đỏ vào má, để khi vết thương lành vẫn còn lưu lại dấu vết, hầu dễ hành hạ, dễ bắt bớ hoặc dễ phân biệt đối xử, là một sáng kiến, nếu không của vua Tự Đức thì cũng của một quan lớn nào đó trong triều đình Huế bấy giờ. Có thể nói đây là hình khổ có một không hai trong lịch sử bách hại Giáo Hội Công Giáo toàn cầu.
Nhưng một cụ già khoảng 60 tuổi, đã giám hiên ngang làm trái lại điều quy định ác nghiệt đó. một lần bị khắc hai chữ "Tả Đạo", cụ đã rạch xóa đi. Lần khác, thay vì bị quân lính khắc chữ Tả Đạo, ông cụ xin quan, để kín đáo nhờ người bạn tù khắc lên má hai chữ "Chính Đạo", khiến quan trên vô cùng tức giận. Cụ già can trường đó chính là thánh Phaolô Đổng. 


* Chấp nhận mọi gian khổ
Phaolô Đổng sinh năm 1802 tại Vực Đường, tỉnh Hưng Yên (nay thuộc tỉnh Hỉa Hưng). Phaolô Đổng là một giáo dân của xứ Cao Xá, một trong những xứ có truyền thống đạo đức lâi đời trong giáo phận Trung. Ông Đổng từng làm quản lý trông nom sổ sách, tài sản họ đạo trong suốt sáu tháng trời.
Thời đó thi hành chiếu chỉ cấm đạo, các quan đi tới từng làng Công Giáo lấy lý do kiểm tra dân số, nhưng thực ra để bắt các Kitô hữu phải vâng lệnh vua mà bỏ đạo. Quan truyền đặt tượng Thánh Giá xuống đất và ép buộc mọi người phải đạp lên. Ai không chịu đạp Thánh Giá thì bị trói lại, bị đóng gông giải về tỉnh. Ông Phaolô Đổng bị bắt trong trường hợp tương tự vào ngày 25.11.1861, khi ông cam đảm nhận mình là Kitô hữu, và cương quyết không chịu chà đạp Thánh Giá.
Quan truyền quân lính giải ông về huyện Ân Thi. Tại đây, quan hứa sẽ cho nhiều tiền nếu ông bỏ đạo. Nhưng ông nhất mực từ chối và khẳng định với quan về lòng trung thành với Chúc Kitô. Do đó, ông phải chịu hành hạ, mang xiềng xích nặng nề trong tù. Tiếp theo, lính được lệnh giải ông về Hưng Yên. Vừa tới của thành, ông Phaolô Đổng thấy một cây Thánh Giá trên mặt đất, ai muốn qua phải đạp lên. Ông nhất quyết đứng lại và không chịu bước qua. Quân lính đánh đập ông tàn nhẫn, nhưng vẫn không cưỡng bức được vị anh hùng đức tin. Sau cùng họ nhốt ông vào một cái cũi chật hẹp để khiêng qua.
Gần một năm trong tù cực khổ, ông Đổng ban ngày phải mang gông, đêm đến chân chịu xiềng xích. Nhiều lần bị quan tra hỏi, trước sau như một ông cương quyết giữ vững đức tin. Lính dã man đánh đập ông nhiều lần, khiến thân mình vị chứng nhân đầy những vết thương đẫm máu.
Ông Phaolô Đổng khẳng khái không chịu cho quân lính khắc hai chữ "Tả Đạo" vào má, nên bị cấm cốc (bắt nhịn ăn) nhiều ngày. Dần dần ông rũ liệt đuối sức. Có lần người lính canh động lòng thương cho ông chút cơm và chén nước, ông lại nhường cho người bạn tù đồng cảnh ngộ. Ít hôm sau, không chịu nổi cơn đói khát dày vò, ông phải nhai vài miếng vải áo để quên đi. Thế rồi quân lính dùng sức mạnh khắc trên má ông hai chữ "Tả Đạo", nhưng ông cam đảm rạch xóa đi.
Tám ngày sau, kiệt lực vì đòn vọt và đói khát, ông Phaolô Đổng bất tỉnh mê man, quân lính phải khó khăn lắm mới làm cho ông tỉnh lại được. Quan cho phép ông ăn uống và ra lệnh thích tự trên má ông lần nữa. Ông xin quan để người bạn tù làm việc này, nhưng thay vì khắc hai chữ "Tả Đạo", ông lại bảo người bạn tù khắc hai chữ "Chính Đạo", khiến quan xem thấy nổi giận và ra lệnh cấm cốc thêm ít ngày, rồi kết án tử hình ông.
Trước tòa điều tra phong thánh, người cháu gái ông làm chứng rằng : "Khi nghe tin mình bị trảm quyết, ông rất vui mừng, sấp mình xuống đất tạ ơn Thiên Chúa, cầu nguyện sốt sắng và đọc kinh An Năn Tội".
Trên đường ra pháp trường, ông Đổng dọn mình chết lành và đạo kinh phó dâng linh hồn (kinh Giáo Hội khuyên đọc giúp người hấp hối). Ông đã lớn tiếng kêu tên cực trọng Chúa Giêsu ba lần trước khi đao phủ chém đứt đầu, đưa linh hồn vị tử đạo vể Thiên Quốc. Hôm đó là ngày 03.06.1862.
Ngày 29.04.1951, trong số 19 giáo hữu được suy tôn chân Phước tại Vương Cung Thánh Đường Phêrô do Đức Piô XII chủ sự, danh tính và tiểu sử ông Phaolô Đổng đã khiến mọi người phải khâm phục một mẫu gương hiên ngang, can đảm của con dân Việt Nam, tuy nhỏ bé và nghèo nàn, nhưng lại giàu nghĩa khí anh hùng bất khuất. Ngày 19-06-1988, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh
* Lời bất hủ.
Quân lính đòi khắc chữ "Tả Ðạo" lên má ông theo lệnh của nhà vua, ông Phaolô Ðổng không chịu, thế rồi quân lính dùng sức mạnh khắc trên má chữ "Tả Ðạo", ông liền rạch xoá đi, quan cấm cốc ông (nhịn ăn)sau ông xin quan nhờ người bạn tù, khắc vào má ông không phải chữ "Tả Ðạo" nhưng là chữ "Chính đạo", khiến vua quan nổi giận, rồi kết án tử hình ông.

Thứ Tư Tuần 9 Thường Niên Mc 12,18-27.



Lời Chúa: Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là của kẻ sống.
Ha-lê-lui-a. Chúa nói: Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống; ai tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết. Ha-lê-lui-a.
Lạy Thiên Chúa của con, con tin tưởng nơi Ngài,
xin Ngài đừng để con tủi nhục,
đừng để quân thù đắc chí nhạo cười.
Chẳng ai trông cậy Chúa,
mà lại phải nhục nhằn tủi hổ,
chỉ người nào tự dưng phản phúc

mới nhục nhằn tủi hổ mà thôi.

 

Ngày 03/06 – Chân phước Gioan XXIII, Giáo hoàng (1881-1963)
Ít người có ảnh hưởng trong thế kỷ XX như CP Giáo hoàng Gioan XXIII, ngài tránh được người khác chú ý càng nhiều càng tốt. Thật vậy, có người đã viết rằng “tính bình dân” (ordinariness) có vẻ là một trong các đức tính nổi bật của ngài nên ngài được nhắc đến với biệt danh “ông già bình dân”.
Là con cả trong một gia đình ở Sotto il Monte, gần Bergamo thuộc Bắc Ý, Angelo Giuseppe Roncalli luôn hãnh diện về nguồn gốc thực tế (down-to-earth roots). Là chủng sinh ở chủng viện Bergamo, ngài còn gia nhập Dòng Ba Phanxicô.
Sau khi thụ phong linh mục năm 1904, ngài trở lại Rôma để học giáo luật (canon law). Sau đó ngài làm thư ký cho giám mục, rồi là giáo sư dạy lịch sử giáo hội tại chủng viện và xuất bản báo chí của giáo phận.
Ngài là người khiêng cáng (stretcher-bearer) cho quân đội Ý trong Thế chiến nên ngài trực tiếp biết về chiến tranh. Năm 1921, ngài được bầu làm giám đốc Hội Truyền bá Đức tin (Society for the Propagation of the Faith), ngài dành thời gian dạy khoa nghiên cứu tông phẩm (patristics, các tác phẩm của các tông đồ đầu tiên của Chúa Giêsu) tại chủng viện ở Rôma.
Năm 1925, ngài làm nhà ngoại giao Tòa thánh, phục vụ đầu tiên ở Bulgaria, rồi ở Thổ Nhĩ Kỳ và ở Pháp (1944-53). Trong Thế chiến II, ngài thân quen với các vị lãnh đạo Chính thống giáo và được trợ giúp của đại sứ quán Đức tại Thổ Nhĩ Kỳ, TGM Roncalli đã cứu thoát khoảng 24.000 người Do Thái.
Ngài được tấn phong hồng y và được bổ nhiệm làm TGM giáo phận Venice năm 1953. Một tháng sau sinh nhật thứ 78, ngài được bầu làm giáo hoàng, chọn danh hiệu Gioan, tên của cha ngài và thánh bổn mạng đền thờ Rôma, thánh Gioan Latêranô. Ngài làm việc rất nghiêm túc, nhưng chính ngài không nghiêm khắc. Sự hóm hỉnh của ngài mau được mọi người biết đến, và ngài bắt đầu họp với các nhà lãnh đạo tôn giáo và chính trị trên khắp thế giới. Năm 1962, ngài nỗ lực giải quyết sự khủng hoảng tên lửa của Cuba.
Hai Tông thư nổi tiếng của ngài là Mẹ và Thầy (Mother and Teacher, 1961) và Hòa bình trên Trái đất (Peace on Earth, 1963).
ĐGH Gioan XXIII thêm tổng số thành viên của Hồng y đoàn (College of Cardinals) và toàn cầu hóa Hồng y đoàn. Phát biểu tại buổi khai mạc Công đồng Vatican II, ngài chỉ trích“các nhà tiên tri về tận thế (prophets of doom) trong thời đại hiện đại không thấy gì mà chỉ quanh co và phá hoại”. Ngài nói: “Giáo hội luôn luôn chống lại... các sai lầm. Tuy nhiên, ngày nay giáo hội thích dùng liệu pháp Lòng Thương Xót hơn là nghiêm khắc”. Trên giường bệnh, ngài nhắn nhủ: “Không phải Phúc âm đã thay đổi mà là chúng ta đã bắt đầu hiểu Phúc âm đúng hơn. Những ai sống lâu như tôi đều có thể so sánh các nền văn hóa và truyền thống khác nhau, và cũng biết rằng đã đến lúc nhận biết các dấu hiệu của thời đại, nắm bắt cơ hội và nhìn xa trông rộng”.
ĐGH Gioan Phaolô II phong chân phước cho ngài vào ngày 3-9-2000, ngày 11-10 (ngày khai mạc khóa họp đầu tiên của Công đồng Vatican II) là lễ nhớ ngài.


Ngày 03/06 THÁNH CARÔLÔ LWANGA và CÁC BẠN TỬ ĐẠO
“ Hỡi những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng vương quốc, dành sẵn cho các ngươi, ngay từ lúc tạo thành trời đất”( Mt 25, 34 ).Thánh Carôlô Lwanga và các bạn tử đạo đã làm cho Hội Thánh Ouganda càng lúc càng phát triển. Các Ngài xứng đáng lãnh nhận triều thiên trên trời.
 HỘI THÁNH OUGANDA ĐƯỢC LỚN LÊN NHỜ MÁU CÁC THÁNH CARÔLÔ LWANGA và CÁC BẠN TỬ ĐẠO: “ Máu của các Kitô hữu làm nẩy sinh Giáo Hội” hay “ Máu vị tử đạo là hạt giống của các Kitô hữu”. Thánh Carôlô Lwanga luôn khích lệ, động viên các bạn kiên cường, tuyên xưng danh Chúa dẫu có phải hy sinh tới cả mạng sống của mình. Các thánh tử đạo Ouganda thuộc mọi lứa tuổi: có vị như Matthias mới lên 5 tuổi, thánh Kitô mới có 13 và các vị khác lớn hơn từ 16 tới 24 tuổi đời. Các Ngài đã hy sinh thí mạng sống của mình, đã đi con đường đức tin, con đường thập giá, con đường tình yêu như Thầy chí thánh Giêsu, những hình phạt như ném đá, voi dày, đòn vọt, gông cùm, xiềng xích không làm  chùn bước các Ngài. Các Ngài đã cảm nghiệm sâu xa lời của Chúa:”Tôi đã không muốn biết đến chuyện gì khác, ngoài Đức Giêsu Kitô, mà là Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh vào thập giá”( 1Co 2, 2 ) .   Hai mươi hai thánh tử đạo Ouganda trong đó có bốn vị chưa được chịu phép rửa tội, thánh Carôlô đã động viên, dậy dỗ và rửa tội cho họ trước khi các Ngài được phúc tử đạo. Hội Thánh Ouganda chỉ thực sự được phát triển và lớn mạnh nhờ máu của các vị tử đạo mà Giáo Hội mừng kính hôm nay.
 CHÚA THƯỞNG CÔNG CÁC NGÀI:
Cảm nghiệm sâu xa lời sách khải huyền:” Ai thắng, Ta sẽ cho ăn quả cây sự sống, trồng ở trên thiên đàng của Thiên Chúa”( Kh 2, 7 ). Thánh Carôlô Lwanga  và hai mươi mốt bạn được phúc tử đạo, đã lãnh triều thiên nước trời. Chúa thưởng công các Ngài, Giáo Hội trần thế tôn vinh các Ngài. “Lạy Chúa, Chúa đã cho máu tử đạo làm nẩy sinh thêm nhiều Kitô hữu. Xin cho máu của thánh Carôlô Lwanga và các bạn đã tưới xuống cánh đồng Hội Thánh cũng đem lại một mùa lúa dồi dào”( Lời nguyện nhập lễ, lễ thánh Carôlô Lwanga và các bạn tử đạo ).

Thứ Hai, 1 tháng 6, 2015

Ngày 02/06/1862 Nông Dân Đaminh Ninh Tử Đạo.


Nông Dân Đaminh Ninh Tử Đạo

Tư tưởng của cha charles de Foucaul vị khai sáng dòng Tiểu Đệ, minh họa thật chính xác và sinh động về các thánh tử đạo Việt Nam: “ Giác quan khiếp sợ trước những hiểm nguy, những cái sẽ đem đến đau thương và chết chóc. Nhưng với đức tin mạnh mẽ và sống động, giác quan không còn e sợ gì cả, nó biết trước và đón nhận tất cả những gì xảy đến do ý Chúa vì những điều Chúa muốn chỉ xin lợi ít mà thôi.”
Cố gắng mọi ngày một tiến bộ về vật chất cũng như tinh thần đạo đức, đó là lý tưởng của những người nhìn xa thấy rộng, muốn tạo cho mình một tương lai sáng lạn, để kiện toàn cuộc sống và làm tốt cho đời, Thánh Đaminh Ninh là một trong những người đó.
Đaminh Ninh sinh năm 1841 tại một làng toàn tòng Công Giáo là Trung Linh tỉnh Nam Định, nay thuộc giáo phận Bùi Chu, lớn lên cậu phụ giúp cha mẹ việc đồng áng, cậu còn cố gắng học thêm chử Nôm, quyết chí xây dựng tương lai tốt đẹp hơn, để giúp ít cho đời và làm sáng danh đạo. Hơn nữa, cậu ráng sống đạo nhiệt thành, rèn luyện tam tính, trong làng ai cũng ngợi khen cậu là một Ki-tô hữu tốt lành, trổi vượt trên các thanh niên cùng trang lứa.
Một việc xảy ra làm cho anh hết sức đau buồn, cha mẹ muốn anh kết hôn với một thiếu nữ trong làng, phần vì chưa muốn lập gia đình, phần bởi chưa tìm hiểu nhau, chẳng yêu thương chi nên anh quyết từ chối, vì cha mẹ cứ nài ép mãi, buộc lòng anh phải vâng lời, chấp nhận kết hôn, nhung sau ngày cưới hai người không chung sống với nhau. Tuy nhiên anh vẫn cư xử hòa nhã khiêm tốn với nàng như một em ruột, sau anh nhận thấy mình có phần lỗi nên đã cố gắng đền bù bằng đời sống thánh thiện và cuối cùng, can đảm chịu mọi cực hình vì đức tin và lòng mến Chúa.
Đời anh xem ra dỡ dang thất bại, nhưng Chúa quan phòng đã dẫn đưa anh đi theo con đường khác vẻ vang cao quý hơn, giữa lúc vua Tự Đức ra chiếu chỉ PHÂN SÁP , bắt bớ giết hại người Công Giáo vô cùng tàn nhẫn. Làng mạc người Công Giáo bị giải tán, gia đình có đạo phải phân ly mỗi người một ngã, tài sản bị tịch thu hoặc phân phát cho lương dân, rất nhiều người có đạo bị bắt, bị tra tấn, tù đày, giết chóc khổ sở, gia đình anh Ninh cũng lâm cảnh ly tán này.


Năm 1862 lúc đó anh 21 tuổi, anh bị bắt cùng với một số tín hữu khác, trong thời gian tù ngục, nhiều lần quan dụ dỗ anh chối bỏ đức tin, hứa hẹn cho nhiều của cải nhưng anh nhất quyết từ chối và nói: “ Nếu là con cái không được phép sĩ nhục cha mẹ mình, thì làm sao người Ki-tô hữu lại được phép chà đạp hình ảnh của Đấng Tạo Thành Trồi Đất.” Thấy không thể cảm hóa được anh, quan dùng đến biện pháp mạnh, cho quân lính đánh đập, tra tấn anh dữ dội, buộc anh đạp lên Thánh Giá nhưng anh quả quyết và nói: “ Quan cứ làm điều quan muốn, phần tôi, tôi không bao giờ xúc phạm Thánh Giá Chúa. Tôi là người Ki-tô hữu, làm sao tôi dám chà đạp Đấng cứu Độ tôi ?” Trước sự dũng cảm của vị chưng nhân trung thành, tổng đốc Nguyễn Đình Tân đã kết án trảm quyết, đã cương quyết theo Chúa, của cải không màng, cực hình chẳng sợ. Đaminh Ninh thật đứng anh hùng của đức tin. Đứng trước lòng can đảm mạnh mẽ đó, các quan thấy không còn cách nào hơn là đệ đơn xin vua kết án tràm quyết, và bản án được thi hành tại pháp trường Am Tiêm tỉnh Nam Định ngày 02 tháng 06 năm 1862
Ngày 29 tháng 04 năm 1951 Đức Thánh Cha Piô XII tôn phong Đaminh Ninh lên hàng chân phước, và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã suy tôn Ngài lên bậc Hiển Thánh ngày 19 tháng 06 năm 1988.

Thứ Ba Tuần 9 Thường Niên Mc 12,13-17.



Lời Chúa: Của Xê-da, trả về Xê-da; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa.
Ha-lê-lui-a. Xin thân phụ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, soi trí mỡ lòng cho chúng ta thấy rõ, đâu là niềm hy vọng, mà ơn Người kêu gọi đem lại cho chúng ta. Ha-lê-lui-a.
Hạnh phúc thay, người kính sợ Chúa,
những ưa cùng thích mệnh lệnh Chúa truyền ban.
Trên mặt đất, con cháu của họ sẽ hùng cường,
dòng dõi kẻ ngay lành được Chúa thương giáng phúc

người công chính an tâm và tin cậy Chúa.

Ngày 02/06 – Các thánh Marcêllinô và Phêrô, Tử đạo (qua đời năm 304)
Các thánh Marcêllinô và Phêrô nổi bật trong giáo hội và được kể trong số các thánh của giáo luật Rôma. Nhắc đến tên các ngài là cách chọn lựa trong Kinh nguyện Thánh Thể I (Eucharistic Prayer I). Thánh Marcêllinô là linh mục, thánh Phêrô là người trừ quỷ (exorcist), nghĩa là người được giáo hội trao quyền xử lý các trường hợp bị ma quỷ trói buộc. Các ngài đều bị xử trảm trong thời bách hại của Diocletian (hoàng đế Rôma, 284-301). ĐGH Damasô viết văn bia (epitaph) dựa vào thông tin của đao phủ, và Constantine cho xây đền thờ ở Rôma ngay trên hầm mộ an táng các ngài. Có nhiều truyền thuyết về cái chết của các ngài.
Tại sao các ngài được nhắc đến trong King nguyện Thánh Thể và có ngày lễ, mặc dù hầu như không biết gì về các ngài? Có thể vì giáo hội tôn trọng ký ức tập thể. Có lần các ngài đã thôi thúc khuyến khích toàn thể giáo hội. Các ngài đã tạo bước quyết định về đức tin: “Giáo hội luôn tin rằng cá thánh tông đồ, và các vị tử đạo của Chúa Kitô đã làm chứng về đức tin và bác ái bằng chính máu mình, kết hiệp mật thiết với chúng ta trong Đức Kitô” (Hiến chế về Giáo hội, 50).