Thứ Ba, 22 tháng 11, 2016

Ngày 24-11-1790-1838 Thánh Phêrô Vũ Ðăng Khoa Linh mục Tử đạo.

Phêrô Võ Ðăng Khoa, Sinh năm 1790 tại Thuận Nghĩa, Nghệ An, Linh mục, bị xử giảo ngày 24 tháng 11 năm 1838 tại Ðồng Hới dưới đời vua Minh Mạng. Đức Lêo XIII suy tôn cha Phêrô Vũ đăng Khoa lên bậc Chân Phước ngày 27-5-1900. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh.. Lễ kính vào ngày 24/11.

Thánh Phêrô Vũ Ðăng Khoa Linh mục Tử đạo
* An vui trong hiểm nguy.
Phêrô Vũ Đăng Khoa sinh năm 1790 tại làng Thuận Nghĩa, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Cậu là con thứ ba trong bẩy người con ông Phaolô Vũ Đình Tân và bà Maria Nguyễn Thị Hoan. Lên tám tuổi, cậu Khoa được học chữ Hán, rồi tiếp tục học thêm với hai linh mục Hòa (Hoan) và Phương. Nhận thấy cậu có trí thông minh, tính tình hiền lành và có ý dâng mình cho Chúa, hai cha đã gửi cậu vào học tại chủng viện Vĩnh Trị (Nam Định), dướisự giáo huấn của cha chính Jeantet Khiêm. Năm 1820, thầy Khoa được lãnh chức linh mục.
Với nhiệt tình của người thanh niên 30 tuổi, cha Vũ Đăng Khoa được bổ nhiệm làm phụ tá cho cha Nguyễn Thế Điểm, coi sóc hai xứ Luca Loan Đăng và Vĩnh Phước, thuộc hạt Bố Chính. Trong thời gian chín năm làm phụ tá, cha Khoa đã hăng say trong nhiệm vụ, học hỏi thêm trong chức vụ chủ chăn . nhờ có đời sống đạo đức và niềm nở với mọi người, cha đã thu được nhiều thành quả tốt đẹp. Năm 1829, Đức cha Havard Du bổ nhiệm cha về coi sóc giáo xứ Cồn Dừa. Về nhận xứ mới, cha Khoa đã vận dụng hòan cảnh thuận lợi, khiến cho công tác mục vụ ngày càng tiến triển không ngừng. Trong những công việc bận rộn của giáo xứ, cha vẫn giữ được nét trang nghiêm, nói năng điềm đạm, nhất là luôn quảng đại, nhân từ, nên được mọi người kính nể và yêu mến.
Ngày 06.1.1833 vua Minh Mạng ra chiếu chỉ tòan quốc : Lùng bắt các giáo sĩ nước ngoài cũng như bản xứ, kể cả các tín hữu, triệt hạ các thánh đường và các cơ sở tôn giáo. Nhất là sau chiếu chỉ thứ ba ban hành ngày 25.1.1836, cha Khoa phải thay đổi chỗ ở luôn để có thể tiếp tục công tác mục vụ trong hai năm liền (1836 – 1838). Mặc dù hoàn cảnh bất lợi và nhiều hiểm nguy, cha vẫn an vui vì thấy mình đang sống như Chúa Giêsu xưa "cáo có hang, chim có tổ, nhưng Con Người không chỗ gối dầu".

* Trọn đường khổ giá.
Người môn đệ của Chúa Kitô, cha Phêrô Vũ Đăng Khoa đâu ngờ mình sắp được chia sẻ con đường khổ nạn theo chân Thày Chí Thánh. Đó là đêm 02.7.1838, cha đang trú ẩn ở làng Lê Sơn, hạt Bố Chính thì một văn nhân tên là Tú Khiết đột nhập vào nhà bắt trói cha cùng với thầy giảng Đức và Khang. Sau đó Tú Khiết tra gông vào cổ, giải tất cả các ngài lên Đồng Hới, thuộc tỉnh Quảng Bình ngày 10.07.1838.
Tại công đường Đồng Hới, quan tra vấn cha Khoa nhiều lần, khuyên dụ cha bỏ đạo và khai báo chỗ ở của linh mục thừa sai Candalh Kim. Quan ra lệnh đánh cha 76 roi để uy hiếp tinh thần, nhưng quan vẫn chẳng khai thác được điều mong đợi. Không thành công trong việc tra khảo cha Khoa, quay sang hai thầy gỉang Đức và Khang. Thầy Khang khai báo sao đó, khiến quan tìm ra nơi trú ẩn của thừa sai Cao và cha Điểm. Ít lâu sau, hai vị này cùng bị bắt giam chung với cha Khoa (31.7).
Quan tiếp tục thi hành nhiều mưu kế và khổ hình để lung lạc đức tin cha Khoa cùng các vị khác. Là linh mục, là chủ chăn, làm sao lại có thể chối Chúa được, cha Khoa cương quyết đi trọn con đường khổ nạn. Các quan thua cuộc và quyết định lên án xử giảo cha. Các quan đệ án vào kinh đô xin nhà vua phê chuẩn cùng với án trảm quyết thừa sai Cao và án xử giảo cha Điểm. Từ đó ba chiến sĩ đức tin mong đợi ngày vinh quang sắp tới, phó thác đời mình qua tay Đức Mẹ.
Ba vị linh mục hàng ngày cùng nhau đọc kinh Mân Côi và hát vang bài "Ave Maria Stella" kính chào Mẹ maria, là Sao Mai rực rỡ, xin chuyển cầu cho chúng con". Mấy ngày đầu vi chưa tìm ra tràng hạt, ba vị nhổ lông quạt để đếm kinh. Ba cha phó thác đời mình cho Nữ Vương các linh mục như xưa Mẹ đã dâng Con Yêu Quý trong đền thờ, nay cũng xin Mẹ hiến dâng chúng con trong cuộc tử đạo đầy hồng phúc.

Trong những ngày tù tội, cha Cao nhận được văn thư Tòa Thánh gửi tới, đặt ngài làm Giám mục hiệu tòa Acanthe và làm đại diện Tông tòa coi sóc giáo phận Tây Đàng Ngoài, thay thế Đức cha Havard Du.
Vua Minh Mạng châu phê bản án và ban lệnh thi hành. Ngày 24.11.1838, quân lính áp giải cha Khoa, Đức cha Cao và cha Điểm đến pháp trường ngoài thành Đồng Hới. Tấm thẻ ghi án của cha Khoa viết: "Đạo trưởng Vũ đăng Khoa, bất khẳng quá khóa, phải xử giảo".
Đến nơi chỉ định, cha quỳ xuống cầu nguyện. Lý hình tròng dây vào cổ cha. nghe hiệu lệnh, lý hình cầm hai đầu dây xiết mạnh cho đến khi vị anh hùng đức tin nghẹt thở và lịm dần. Với 48 tuổi đời và 18 năm linh mục, cha Phêrô Khoa đã thi hành trọn vẹn chức vụ linh mục của mình : Hòa với của lễ vô giá là đức Kitô, cha hiến tế chính mạng sống mình để dâng lên Thiên Chúa Cha, Đấng hằng yêu thương nhân loại.
Đức Lêo XIII suy tôn cha Phêrô Vũ đăng Khoa lên bậc Chân Phước ngày 27.5.1900. Ngày 19-06-1988, Đức Giáo Hoàng  Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển Thánh.

Ngày 24-11-1808-1838 Thánh Phêrô Borie Cao Giám Mục Thừa Sai Paris Tử đạo.

Ðức Cha Phêrô Cao (Pierre Rose Dumoulin Borie), Sinh năm 1808 tại Beynat, Tulle, Pháp, Giám mục Hội Thừa Sai Paris, địa phận Tây Ðàng Ngoài, bị xử trảm ngày 24/11/1838 tại Ðồng Hới dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 24/11.

Giám mục Botie Cao chưa làm Giám mục đến một ngày, nhưng ngài xứng đáng với tước hiệu đó. Căn cứ vào khả năng và nhiệt tình. Đức cha Havard Du đã chọn ngài làm Giám mục phó có quyền kế vị. Cha Cao nhận được giấy quyết định của Tòa Thánh đang khi ở trong tù, và vì thế chưa kịp thụ phong. Tên thường gọi của ngài là Dumoulin do bạn bè đặt (tiếng Pháp Dumoulin là máy xay lúa). Thế nhưng danh xưng Dumoulin đã đi vào lịch sử với hai tước hiệu vinh quang : Giám mục và tử đạo. Quả thật đối với Chúa, giá trị con người là nhân đức và thiện chí, dù thuộc giai cấp nào, mọi người đều được kêu gọi nên thánh.

Thánh Phêrô Borie Cao Gm Thừa Sai Paris Tử đạo
Phêrô Borie sinh ngày 20.02.1808, tại Beynat miền Correze, thân phụ tên là Guillaume Borie, thân mẫu là Rose Borie. Thế nhưng vì song thân làm nghề xay lúa, bạn bè hàng xóm quen gọi cậu là Dumoulin. Sinh trưởng trong một gia đình tầm thường như vậy, nên thuở bé Dumoulin có tính cẩu thả. Cha mẹ ép cậu vào chủng viện, cậu nghe theo nhưng chẳng hứng thú gì, và vi phạm kỷ luật liên tục. Cha giám đốc phải sử dụng nhiều hình thức xử phạt cũng chẳng làm cậu khá hơn được. Tuy vậy, Thiên Chúa đã can thiệp vào cuộc đời con người Ngài tuyển chọn.
Bất ngờ Borie bị một cơn sốt trầm trọng. Trên giường bệnh, cậu có cơ hội suy tư về đời mình. Một hôm đang khi đọc cuốn niên giám của trường Thừa Sai ghi lại cuộc đời các vị truyền giáo, cậu thấy một tia sáng chói lòa trong tâm hồn. Thế là như thánh Phaolô trên đường Damas xưa, cuộc đời cậu Borie từ nay chỉ lấy Đức Giêsu làm lẽ sống, từ đó cậu siêng năng đến gặp Chúa trong Thánh Thể. Và trong những giờ gặp gỡ ấy, cậu nghe như Ngài kêu gọi cậu lãnh nhận một sứ mạng cao quý hơn: Sứ mạng truyền giáo.
Trong những giây phút nguyện cầu linh thiêng ấy, Borie như thấy Chúa nói với mình về vùng Viễn Đông xa xăm, về những người ở đây còn chưa biết Chúa, về những thừa sai đã đến đó rao giảng Tin Mừng và hỏi cậu có yêu Ngài đủ để ra đi như thế không. Câu trả lời của Borie đã được chính cậu ghi lại trong một buổi tận hiến cho Đức Maria :
"Lạy Mẹ của con ! Xin hãy tin nơi con, khi con trưởng thành, con sẽ hiến toàn thân con cho việc cảm hóa những người chưa tin. Xin Mẹ giúp con đi theo con đường và tinh thần của ơn kêu gọi đó. Xin cho con được đau khổ vì danh Đức Kitô, được đón nhận ngành lá tử đạo và đến bến vinh quang".
Đức Mẹ như đã nhận lời cậu. Càng ngày Borie càng cương quyết hơn với giấc mơ truyền giáo. Để giấc mơ có thể thành hiện thực, cậu xin chuyển qua chủng viện Hội Thừa Sai Paris. Tại đây cậu kiên trì học tập, lãnh chức phó tế năm 1829, rồi năm sau thụ phong linh mục (21.11.1830). Ngày 01.12.1830, vị tân linh mục bắt đầu xuống tàu khởi hành đến Viền Đông. Thế nhưng vì bão tố phải dừng lại ở Macao khá lâu, ngày 15.5.1832, cha Borie mới tới được Việt Nam.
Nửa năm sau, ngày 06.1.1833, vua Minh Mạng ra chiếu chỉ cấm đạo trên toàn quốc. Các thừa sai bị lùng bắt gắt gao, lên phải di chuyển liên tục, nay nhà này, mai nhà khác. Ngày 24.03, cha Borie kể trong thư là "Tôi đã phải đổi chỗ ở đến 17 lần". Nhưng năm sau, mỗi năm cha đổi chỗ khoảng hai đến sáu lần nữa. Nét đặc biệt của cha Dumoulin là hòa mình rất nhanh với phong tục địa phương. Ngày đầu tiên, cha đã có thể ăn nước mắn cách ngon lành (điều này rất khó với người Châu Âu), cha học tiếng Việt cách dễ dàng và phát âm khá chính xác. Nhờ bản tính bình dân vui tươi và hoạt bát, cha nhanh chóng lấy được cảm tình của các tín hữu và với cả lương dân nữa.
Năm 1836, khi đọc những điều vu cáo trong chiếu chỉ của vua Minh Mạng, cha Borie Cao định viết một lá thư điều trần, nhưng các thừa sai cản lại, vì nói là vô ích thôi. Năm 1838, sau khi giết thừa sai Jaccard Phan, vua Minh Mạng vẫn chưa thỏa mãn. Ông cho lệnh tiếp tục truy tầm cha Candalh Kim, Giám đốc chủng viện Di Loan. Ngày 02.7, khi quan quân bắt linh mục Khoa thì bắt được hai thày giảng Đức và Khang. Thày Khang lúc bị tra tấn quá đau, đã khai rằng có một thừa sai Châu Âu ở Bố Chính, thủ phủ của Nghệ An. Người bị tiết lộ tung tích đó là cha Cao, không phải là cha Candalh. Dựa vào lời thày Khang, quân lính bủa vây khắp vùng Bố Chính, bắt bớ nhiều tín hữu rồi đe dọa, tra tấn và dụ dỗ, để tìm cho ra chỗ ẩn của vị linh mục.
Giai đoạn này cha Cao không thể ở nhà nào được đến vài giờ, luôn luôn ngài phải di động. Các tín hữu có người muốn cho trú, nhưng lại sợ người khác khi bị đánh đập, sẽ tố cáo họ. Cuối cùng ngày 13.7, cha Cao đành xuống một thuyền nhỏ chèo ra khơi, chờ mong cuộc lùng bắt lắng dịu. Nhưng trời bỗng nổi cơn giông bão, dồn ghe của cha tấp vào bờ. Cha nghĩ rằng đây là dấu Chúa muốn mình ở lại, cha bỏ ghe trở lên đất liền, và ẩn núp dười một hố sâu có cây cối tre phía trên.

"Các anh đi tìm ai ?"
Một thiếu nữ 16 tuổi bị bắt và bị tra khảo. Dù biết chỗ cha ẩn trốn, cô cắn răng chịu đựng, không tiết lộ điều mình biết. Nhưng bố cô không dằn lòng được khi thấy con mình bị đánh đập, đã chỉ chỗ cho lính đến chỗ nơi ẩn trốn của ngài. Dầu đang giữa đêm, quân lính cũng kéo nhau rất đông đi bắt vị thừa sai. Cha Cao nghe rất rõ tiếng chân của đám lính, biết rằng không thể thoát được nữa, cha liền lao lên và hỏi : "Các anh đi tìm ai ?". Tất cả đám lính đều ngỡ ngàng trông thấy một bóng đen to lớn từ dưới đất chui lên, họ cứ tưởng là ma, nên hoảng sợ không dám hé môi. Lát sau, khi lấy lại bình tĩnh, biết là linh mục, họ yêu cầu cha ngồi xuống, và cha Cao nhẹ nhàng ngồi xuống. Ngài muốn bước vào cuộc hiến tế bằng một thái độ vâng phục hoàn toàn.
Thày Tự thấy cha bị bắt cũng vội chạy đến xưng là đệ tử của cha. Cha định không nhận, nhưng thày khẩn khoản : "Xin cha cho con theo cha đến cùng". Cha Cao nghe thày xin thế thì xúc động, ngài tháo chiếc khăn quàng, xé một mảnh trao cho người môn sinh và nói: "Cầm lấy, con hãy giữ nó làm bằng chứng cho lời con đã hứa". Thày Tự đã giữ mãi miếng vải đó trong những ngày tháng cùng bị giam với cha. Sau này, thày đã viết lại cuộc tử đạo đau thương của Tôn Sư mình. Và cuối cùng, với mảnh vải như kỷ vật giao ước, thày Tự đã theo gót người cha kính yêu: hy sinh mạng sống vì Đức Kitô ngày 01.7.1840.
Tại Đồng Hới, cha Cao phải ra tòa chung với cha Điểm và cha Khoa. Quan hỏi: "Đạo trưởng Cao, vua đã cấm Gia Tô. Nếu ông bước qua Thập Giá, ta sẽ thả ông về ngay". Cha trả lời: "Thà tôi chết ngàn lần còn hơn". Quan hỏn tiếp: "Tại sao ông không về nước mà giảng, ở đây làm gì để phải trốn tránh hết chỗ này đến chỗ khác?". Cha đáp: "vua cấm đạo sau khi tôi đã đến nước này, từ đó vua cấm tàu Au Châu cập bến Việt Nam thì làm sao tôi có thể về được". Quan lại hỏi: "Ông đã ở nhà những ai ?". Cha trả lời: "Tôi đã bị quan bắt, tôi xin chịu cực hình một mình tôi thôi". Quan liền ra lệnh đánh cha 30 roi, lính nọc cha ra, đánh cho đủ số. Tuy rất đau đớn, cha Cao vẫn không kêu than một lời, quan hỏi ngài có đau không, cha đáp: "Tôi cũng bằng xương bằng thịt như ai khác, lẽ nào không đau. Nhưng mặc kệ, trước và sau trận đánh tôi vẫn thấy thoải mái".
Quan đành giải cha về ngục, hôm khác, quan bắt cha chứng kiến cảnh tra tấn thầy Tự, nhưng đến khi thẩm tra lại, ông gọi cha Cao ra đối chất: - Tại sao ông cứng đầu thế?
- Thưa, câu hỏi của ngài tôi không trả lời khác hơn được.
- Đã vậy ngày mai ông sẽ chịu 100 roi.
- Thưa dù đánh 300 roi tôi cũng chịu, chỉ xin một điều là đừng hỏi tôi về dân chúng.
- Thế nếu ông phải ra mắt vua, đứng bên lò lửa cháy bừng, với những chiếc kìm nung đỏ sắt lóc thịt ông ra, liệu ông còn im lặng được không?
- Thưa, chừng đó sẽ biết, tôi không dám quá tự phụ về mình.
Biết không thể làm cha đổi ý, quan liền nghị án gởi về kinh đô. Cha Cao bị giam chung với hai cha Điểm và Khoa, ba vị linh mục hằng ngày cùng nhau đọc kinh Mân Côi và hát vang bài "Ave Maria Stella": Kính chào Mẹ Maria là Sao Mai rực rỡ, xin chuyển cầu cho chúng con". Mấy ngày đầu, vì chưa tìm ra tràng hạt, ba vị nhổ lông quạt để đếm kinh. Ba cha phó thác đời mình cho nữ vương các linh mục : "Như xưa Mẹ đã dâng Con yêu quý trong đền thờ, nay cũng xin hiến dâng chúng con trong cuộc tử đạo đầy hồng phúc".
Trong những ngày tù tội, cha Cao nhận được văn thư Tòa Thánh gởi tới, đặt ngài làm Giám mục Giám mục hiệu tòa Acanthe và làm Đại diện Tông tòa coi sóc giáo phận Tây Đàng Ngoài, thay thế Đức cha Harvard Du. Thế nhưng, vì đang bị cầm tù, ngài không thể tiến hành nghi lễ thụ phong. Chức vụ đó sau này được trao cho cha Retord Liêu.

Ngày 24.11.1838, quan vào ngục tuyên đọc bản án xử trảm. Đức cha Cao yên lặng lắng nghe sắc chỉ của nhà vua, rồi nói với quan rằng : "Thưa quan, từ bé đến nay tôi chưa lạy ai, vì bên Âu Châu chúng tôi, đó là hành vi kính trọng chỉ dành cho Đấng Tối Cao. Nhưng điều tôi vừa nghe làm tôi quá vui mừng, xin được bày tỏ lòng tri ân của tôi theo kiểu Đông Phương".
Nói xong, ngài quỳ xuống định lạy, nhưng viên quan quá xúc động, không thốt lên lời, vội cản ngăn ngài lại. Lúc dẫn đi xử, Đức cha Cao đi dầu, cổ mang gông tay cầm tràng hạt, vừa đi vừa đọc kinh. Một viên quan khác, ít thiện cảm với người Công Giáo đi lại gần, hỏi Đức cha có sợ chết không. Ngài trả lời : "Tôi đâu phải là quân phiến loạn hay quân trộm cướp mà sợ chết. Tôi chỉ sợ một mình Thiên Chúa. hôm nay tôi chết, mai sẽ đến phiên ông".
Nghe thế, viên quan thét lên: "Láo quá! Tát cho nó vài cái". Nhưng không người lính nào tuân lệnh ông. Đức cha nói với quan : "Nếu lời đó làm phiền ông thì xin ông tha lỗi". Tại pháp trường Đồng Hới, hai cha Khoa và Điểm bị xử giảo trước. Đến lượt xử chém Đức cha cao, người lý hình rất kính phục ngài, phải uống rượu để lấy bình tĩnh, không ngờ vì quá ché, anh đã chém trật vào tai, hàm và vai Đức cha. mãi đến nhát thứ bẩy, đầu vị thừa sai mới lìa khỏi cổ. Thân xác ngài được chôn cất ngay tại chỗ, năm sau mới được các tín hữu cải táng về họ Hướng Phương.
Năm 1843, hài cốt Đức cha Cao được đưa về chủng viện Hội Thừa Sai Paris, đặt cạnh hài cốt các thừa sai Gagelin Kính và Jarcard Phan. Đức Lêo XIII suy tôn Giám mục Borie Cao lên bậc Chân Phước ngày 27.05.1900. Ngày 19-06-1988, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh.

Thứ Năm Các Thánh Tử Đạo Việt Nam Bổn Mạng Hội Thánh Việt Nam Lễ Trọng Lc 9,23-26.

Lời Chúa: Ai liều mất mạng sống vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy.
Ha-lê-lui-a. Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ. Ha-lê-lui-a.
Bấy giờ trong dân ngoại, người ta bàn tán:
Việc Chúa làm cho họ, vĩ đại thay !
Việc Chúa làm cho ta, ôi vĩ đại !

Ta thấy mình chan chứa một niềm vui.

Ngày 24/11 – Các thánh tử đạo Việt Nam.
Thánh Anrê Phú Yên là một trong hàng trăm ngàn vị tử đạo Việt Nam trong những năm từ 1820 tới 1862. Có 117 vị được phong chân phước vào 4 dịp trong những năm từ 1900 tới 1951. Và chân phước GH Gioan Phaolô II đã tôn phong 117 vị này lên bậc hiển thánh.
Công giáo đã đến Việt Nam qua người Bồ Đào Nha, lúc đó còn tách là Đàng trong và Đàng ngoài). Các linh mục Dòng Tên đã lập Hội truyền giáo đầu tiên tại Đà Nẵng năm 1615. các vị tử đạo đã bị nhà vua bắt, bội giáo bằng cách đạp lên Thánh giá, nhưng tất cả đều son sắt niềm tin, không tham sống mà chối bỏ Chúa.
Có 3 đợt bách hại dữ dội hồi thế kỷ XIX. Trong 60 năm kể từ năm 1820, có khoảng từ 100.000 tới 300.000 người Công giáo bị giết hoặc chịu đau khổ. Các nhà truyền giáo ngoại quốc tử đạo trong đợt đầu gồm các linh mục thuộc Hội Truyền giáo Paris (Paris Mission Society), các linh mục Dòng Đa Minh Tây Ban Nha và các thành viên Dòng Ba Đa Minh. Năm 1847, cuộc bách hại lại nổ ra khi nhà vua nghi ngờ các nhà truyền giáo ngoại quốc và các tín hữu Việt Nam muốn nổi loạn.
Các vị tử đạo cuối cùng là 17 giáo dân, có một vị mới 9 tuổi, bị hành quyết năm 1862. Cũng chính năm này có hiệp ước tự do tôn giáo giữa Pháp quốc và Việt Nam, nhưng vẫn chưa hết bách hại. Năm 1954, có hơn 1.500.000 người Công giáo miền Bắc – chiếm 7% dân số hồi đó. Phật giáo chiếm khoảng 60%. Cuộc bách hại dai dẳng khiến 670.000 người Công giáo phải rời bỏ quê hương xứ sở để vào miền Nam. Năm 1964, miền Bắc vẫn còn 833.000 người Công giáo nhưng nhiều người phải bị tù đày. Tại miền Nam, người Công giáo được tự do tôn giáo trong những thập niên đầu của những thế kỷ qua, họ sống như những người tỵ nạn. Trong thời chiến tranh Việt Nam, người Công giáo lại bị bách hại ở miền Bắc và lại phải chuyển vào miền Nam rất đông.

Thứ Hai, 21 tháng 11, 2016

Ngày 23/11 -Thánh CLÊMENTÊ I Giáo Hoàng Tử Đạo

Ngày 23/11 -Thánh CLÊMENTÊ I Giáo Hoàng Tử Đạo
Người ta biết được về thánh Clêmentê, vị giáo hoàng trị vì trong 10 năm chỉ nhờ bức "thư gởi giáo hữu Côrintô" thôi. Vào thế kỷ thứ IV có lưu hành những chứng thư đầy huyền thoại. Theo đó, cha Ngài là Phaustin thuộc dòng dõi Giacop. Sinh tại Roma, được nuôi dưỡng trong Do thái giáo.
Thánh Clêmentê đã nghe theo những diễn từ của các thánh tông đồ và trở thành môn đệ các Ngài. Ngài đã theo thánh Phaolô trong các hành trình đi truyền giáo và đã trở thành đấng kế vị thứ ba của thánh Phêrô. Vua Trajanô đang bách hại các Kitô hữu biết được rằng: vị giáo hoàng đã đem được nhiều người trở lại đạo. Ông kết án Ngài phải làm việc khổ sai tại các hầm mỏ bên kia Bắc Hải, trong các miền hoang vắng. Hai ngàn Kitô hữu đẽo đá tại đây chịu cảnh khát nước thảm khốc.
Tương truyền rằng thánh Clêmentê cầu nguyện rồi lên một ngọn đồi và thấy một con chiên ghi dấu chân đúng vào chỗ có dòng nước tươi mát vọt lên làm giảm khát cho người mang án. Các bức tranh cẩn đâu tiền còn diễn lại biểu tượng một con chiên đứng trên ngọn núi xanh. Nhà vua khi biết được rằng thánh Clêmentê đã dùng lời nói và phép lạ để an ủi các Kitô hữu, liền sai các sứ giả tới cột cổ Ngài vào một cái neo rồi ném xuống biển. Lệnh đường thi hành. Nhưng trong khi các tín hữu cầu nguyện trên bờ, họ thấy dòng nước rút đi một cách lạ lùng và có thể đưa xác vị tử đạo lên đất liền.
Điều chắc chắn kính là bức thư của thánh Clêmentê đã thành một trong các tài liệu quí giá của Kitô giáo thời Chúa xưa. Các Kitô hữu Côrintô chạy đến Đức giáo hoàng để tìm hoà giải những cuộc tranh chấp, đã kính cẩn đón tiếp thư của Ngài. Những thư này được đọc cho các cộng đoàn tín hữu. Thư của thánh Clêmentê chứng thực việc thánh Phêrô đến và chịu chết ở Roma, việc Nêrô bắt các Kitô hữu làm trò mua vui. Thư cũng gợi ý cho chúng ta việc tổ chức Giáo hội. Giữa các sự việc lớn lao khác, thánh Clêmentê đã nói: "Ai mạnh hãy lo cho người yếu. Người giầu hãy giúp đỡ người nghèo và người nghèo hãy chúc tụng Chúa và điều Ngài muốn cung ứng cho các nhu cầu của họ. Người khôn ngoan hãy tỏ ra khôn ngoan không phải chỉ trong lời nói mà còn trong các việc lành. Người khiêm tốn đùng nói gì về mình và đừng tìm phô diễn hành động của mình. Người lớn không thể tồn tại mà không có người nhỏ và người nhỏ cũng không thể tồn tại mà không có người lớn... Thân thể không thể bỏ qua sự phục vụ của những chi thể nhỏ bé hơn.

Các tín hữu còn học biết bằng qua những âu lo vô ích và sống đời sám hối, mỗi người phải biết vâng phục để trở nên tôi tớ hoàn tất vinh quang Thiên Chúa. Đức Kitô đã không đến trong kiêu sa, nhưng đã tự hạ, đã chịu khổ cực. Vậy phải nên thánh và tín thác cho Chúa.

Ngày 23/11- Thánh côlumbanô viện phụ
Thánh Côlumbanô sinh năm 540 tại Ái-nhĩ-lan, trong thời kỳ các dòng tu ở đây đang thịnh hành phát triển.
Lớn lên, thánh nhân được cha mẹ gởi ở đan viện Băng-gô, để học hành và đào luyện tánh nết cũng như đạo đức. Ngài có trí thông minh đặc biệt, học hành giỏi giắn, lại có lòng mến mộ nhân đức, nên đã xin gia nhập đan viện. Mẹ ngài hết sức ngăn cản, nhưng ngài vẫn cương quyết vâng theo tiếng Chúa gọi.
Ở tu viện, hằng ngày thánh nhân lo trau dồi thêm kiến thức, nhất là học hỏi Thánh Kinh thần học, tập luyện sống khổ hạnh và thực hành đức mến Chúa yêu người, dưới sự hướng dẫn của thánh Com-gan.
Xong thời gian học tập, thánh nhân được bề trên giao cho dạy học trong dòng. Và năm 590, ngài được sai đi truyền giáo và thành lập tu viện tại xứ Gôn (nước Pháp), với một nhóm tu sĩ của dòng.
Suốt hơn 10 năm ở đây, thánh nhân sống khắc khổ, rày đây mai đó, rao giảng Tin mừng cứu rỗi cho mọi người, đồng thời giúp đỡ những người nghèo khổ bệnh tật. Dân chúng thấy ngài tận tụy, hy sinh vì họ thì đem lòng thương mến và xin gia nhập đạo đông đảo. Trong số nầy có nhiều người muốn theo làm môn đệ Ngài.
Ngoài ra việc giảng đạo, thánh nhân còn thành lập nhiều đan viện, số người gia nhập ngày càng đông. Họ sống hy sinh khắc khổ, chuyên cần cầu nguyện và làm việc để sinh sống, và nếu có dư ra thì bố thí cho kẻ nghèo. Đan viện nổi tiếng nhất của ngài là đan viện ở Lút-xơi. Đây là nơi phát xuất ra nhiều nhà truyền giáo lỗi lạc, nhiều vị tông đồ đắc lực.
Thánh nhân thường xuyên huấn luyện các tu sĩ về đàng nhân đức: đây là mối bận tâm lớn nhất của ngài. Trong một bài huấn đức, ngài nói:
“Trong sách luật, Mô-sê đã viết: Thiên Chúa đã dựng nên con người giống hình ảnh Người. Xin hãy cùng tôi tìm hiểu ý nghĩa cao cả của câu sách ấy. Thiên Chúa toàn năng, vô hình, khôn thấu, khôn tả, khôn ví. Khi nhào nặn con người từ bùn đất, đã làm cho ta trở nên cao cả bằng cách ban cho họ được vinh dự, được giống hình ảnh Người. Con người là gì sánh với Thiên Chúa? Bùn đất là gì sánh với thần khí. Bởi lẽ, Thiên Chúa là thần khí, thế nên việc Thiên Chúa ban tặng cho con người hình ảnh vĩnh cửu và sự sống giống như ngài, là một “việc tôn vinh” kỳ diệu. Được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa là một vinh dự lớn lao cho con người, nếu hình ảnh đó được bảo toàn”.
“Quả vậy, bao lâu con người biết sử dụng tốt các khả năng đã được gieo sẵn trong tâm hồn mình, thì họ giống như Thiên Chúa. Những khả năng nào Thiên Chúa đã gieo trong con người nguyên thủy của ta, thì Người dạy ta phải sống trả lại Người tất cả. Trước nhất, Người dạy ta: hãy yêu mến Chúa hết lòng vì chính Người đã yêu thương ta trước, ngay từ đầu, trước cả khi ta hiện hữu, yêu mến Thiên Chúa tức là canh tân hình ảnh Người ở nơi ta. Mà yêu mến Thiên Chúa là tuân giữ các lệnh truyền của Người, vì Người đã phán: “Nếu các con yêu mến Ta, các con hãy tuân giữ các lệnh truyền của Ta. Điều Ngài truyền chính là tình bác ái huynh đệ: Nầy là lệnh truyền của Ta, hãy yêu thương nhau như Ta đã yêu thương các con”.
Giữa lúc đó, vua nước Buộc-gôn sống phóng đãng ngoại tình. Thánh nhân thấy vậy thì khuyến cáo ông ta. Nhưng thay vì nghe lời khuyên của thánh nhân, ông ta nổi giận, trục xuất ngài ra khỏi tu viện, và cấm không cho ai chứa ngài. Buộc lòng ngài phải sang trú ngụ nước Ý và qua đời tại đây ngày 23 tháng 11 năm 615.

Thứ Tư Tuần 34 Thường Niên Lc 21,12-19.

Lời Chúa: Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét. Nhưng dù một sợ tóc trên đầu anh em cũng không bị mất đâu.
Ha-lê-lui-a. Chúa phán: Hãy trung thành cho đến chết, và Ta sẽ ban cho ngươi triều thiên sự sống. Ha-lê-lui-a.
Vì Người ngự đến xét xử trần gian,
Người xét xử địa cầu theo đường công chính,

xét xử muôn dân theo lẽ công bình.

Ngày 23/11 – Chân phước Miguel Agustín Pro, Linh mục Tử đạo (1891-1927)   2 hình
Đối với chân phước Micae Pro (Miguel Agustín Pro), mọi sự trên đời này đều có thể là chuyện đùa được. Một lần bị công an rượt bắt, đến chỗ quẹo, ngài bá vai một cô gái và nói nhỏ: “Cha bị công an rượt.” Khi thấy vậy, họ tưởng là một cặp tình nhân, nên chẳng thèm để ý gì, chỉ cố đuổi bắt cho được ông linh mục! Dầu vậy, ngài không cho phép ai coi việc gì liên hệ đến Chúa là chuyện đùa. Chính vì thế, ngài bị chính quyền Mêhicô thời đó kết án.
Chân phước Micae Pro sinh năm 1891 tại thị trấn Zacatecas, miền trung nước Mêhicô, trong một gia đình khá giả và đạo đức. Lúc nhỏ, ngài là một chú bé hiếu động và tinh nghịch. Năm 20 tuổi, ngài được nhận vào Dòng Tên tại tập viện El Llano. Sau 4 năm sống yên lành, ngài cùng với cả cộng đoàn phải chạy trốn sáng Hoa Kỳ, ở nhà tập Los Gatos ở bang California, để tránh đoàn quân hung hãn của chính quyền Carranza thù ghét Hội Thánh. Năm 25 tuổi, ngài được gửi đi học triết lý tại Granada nước Nicaragua. Năm 31 tuổi, ngài được gửi học thần học tại Barcelona ở Tây Ban Nha, rồi tại Enghien ở Bỉ. Tại đây ngài thụ phong linh mục lúc 34 tuổi. Năm sau ngài được gọi về Mêhicô để hoạt động tông đồ.

Ngài chỉ hoạt động tông đồ được hơn một năm, tất cả tập trung tại Mêhicô. Thời đó, chính quyền Mêhicô đề ra những biện pháp gay gắt đối với tôn giáo: luật năm 1926 giải tán tất cả các dòng tu, đóng cửa các trường học công giáo, mỗi tín hữu có thể đến cầu nguyện riêng ở nhà thờ, nhưng không được đọc kinh chung hay dâng lễ, dù là ở tư gia. Không thể đùa với những việc thiêng liêng như vậy được: 90% dân Mêhicô là người công giáo. Một mặt cha Pro tham gia Hội Liên Hiệp Bảo Vệ Tự Do Tín Ngưỡng để đòi chính quyền tôn trọng tự do sinh hoạt tôn giáo của nhân dân. Mặt khác, ngài thay hình đổi dạng để có thể đi đây đi đó để giải tội, dâng lễ, hướng dẫn tĩnh tâm. Ngài đặc biệt giúp các gia đình nghi thức tôn vương: nhận Chúa Ki-tô là vua để yêu mến, tôn kính và tuân phục. Có lần ngài đang chuẩn bị dâng lễ tại một tư gia thì công an đến. Họ hỏi: “Ở đây sắp có lễ, phải không? Ngài trả lời thật bình tĩnh: “Nếu ở đâu có lễ, xin cho tôi biết với. Tôi là người công giáo, rất mong được dự lễ.” Nhiều lần ngài thoát tay công an trong đường tơ kẽ tóc như vậy.
Một hôm có người trong hàng lãnh đạo chính quyền Mêhicô bị ám sát. Công an bắt ngài cùng với mấy thành viên khác của Hội Liên Hiệp Bảo Vệ Tự Do Tín Ngưỡng. Không hề bị xét xử, họ đem ngài và các bạn ra xử bắn ngày 23 tháng 11 năm 1927 tại thủ đô Mêhicô. Trước khi thụ hình, ngài xin quỳ gối cầu nguyện ít phút, rồi đứng lên dang tay theo hình thánh giá và hô lớn: “Vạn tuế Chúa Ki-tô vua.” Mọi người quen biết đều nhìn nhận ngài là một tu sĩ đạo đức và là một linh mục nhiệt thành, đồng thời kể không biết bao nhiêu chuyện đùa dai của ngài. Mặc dù kết cuộc đời ngài có vẻ bi đát, nhưng nhất định ngài không phải là một vị thánh buồn. Ngài được Đức Thánh Cha Phaolô II tuyên chân phước năm 1988.

Chủ Nhật, 20 tháng 11, 2016

Thứ Ba Tuần 34 Thường Niên Lc 21,5-11.

Lời Chúa: Sẽ không còn tảng đá trên tảng đá nào.
Ha-lê-lui-a. Chúa phán: Hãy trung thành cho đến chết, và Ta sẽ ban cho ngươi triều thiên sự sống. Ha-lê-lui-a.
Hỡi cây cối rừng xanh,
hãy reo mừng trước tôn nhan Chúa,
vì Người ngự đến, Người ngự đến xét xử trần gian.
Người xét xử địa cầu theo đường công chính,

xét xử muôn dân theo chân lý của Người.

Ngày 22/11 – Thánh Cecilia, Trinh nữ Tử đạo (thế kỷ III)
Dù thánh Cecilia là một trong các vị tử đạo nổi tiếng của Rôma, nhưng các câu chuyện về bà vẫn không được kể lại chính xác. Thời kỳ đầu không thấy dấu hiêu nào cho thấy bà được tôn kính. Một câu được khắc hồi cuối thế kỷ IV nói đến một nhà thờ mang tên bà, và lễ mừng kính bà có từ năm 545.
Theo truyền thuyết, Cecilia là Kitô hữu thuộc dòng dõi quý tộc đính hôn với một người Rôma tên là Valerian. Nhờ ảnh hưởng từ bà, Valerian đã trở lại đạo và chịu tử đạo với người anh em của ông. Truyền thuyết về cái chết của thánh Cecilia nói rằng sau khi bị chém vào cổ 3 lần, bà vẫn sống thêm 3 ngày, và bà xin Đức giáo hoàng lấy nhà của bà làm nhà thờ. Từ thời Cải cách, bà thường được vẽ chân dung với cây đàn viola hoặc đàn organ.

Thứ Bảy, 19 tháng 11, 2016

Thứ Hai Đức Mẹ Dâng Mình Trong Đền Thờ Lễ Nhớ Mt 12,46-50.

Lời Chúa: Đức Giê su giơ tay chỉ các môn đệ và nói: Đây là Mẹ tôi, đây là anh em tôi.
Ha-lê-lui-a. Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa. Ha-lê-lui-a.
Linh hồn tôi ngợi khen Ðức Chúa,
Thần trí tôi hớn hở vui mừng
Vì Thiên Chúa, Ðấng cứu độ tôi.
Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới;
Từ nay hết mọi đời, sẽ khen tôi diễm phúc.
Ðấng toàn năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả.
Danh Người thật chí thánh chí tôn!
Ðời nọ tới đời kia,
Chúa hằng thương xót những ai kính sợ người
Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh,
Dẹp tan phường lòng trí kiêu căng.
Chúa hạ bệ những ai quyền thế,
Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường.
Kẻ đói nghèo, Chúa ban của đầy dư,
Người giàu có, lại đuổi về tay trắng.
Chúa độ trì, Ít-ra-en, tôi tớ của Người,
Như đã hứa cùng cha ông chúng ta.
Vì Người nhớ lại lòng thương xót
Dành cho tổ phụ Áp-ra-ham

Và cho con cháu đến muôn đời.

Ngày 21/11 – Đức Mẹ dâng mình
Lễ Đức Mẹ dâng mình trong Đền thờ bắt nguồn từ bên Giáo Hội Đông phương, tưởng niệm ngày thánh hiến thánh đường Đức Maria ngày 21 tháng 11 năm 543 tại Giêrusalem. Đông phương coi biến cố thánh hiến này như cuộc đi vô “ Đền thờ của Đức Rất Thánh Mẹ Thiên Chúa”. Họ mừng lễ trong vòng sáu ngày từ ngày 20 đến ngày 25 tháng 11, và dựa vào Ngụy thư Tiền Tin Mừng theo thánh Giacôbê được soạn vào giữa thế kỷ thứ II. Trong đó, tác giả kể lại câu chuyện Đức Trinh nữ lúc còn nhỏ đã được dâng hiến vào Đền thờ và ở lại đó cho đến 12 tuổi : “Thầy tư tế đón tiếp con trẻ và chúc phúc như sau : Thiên Chúa đã chúc tụng danh của con trong mọi thế hệ... Thiên Chúa ban cho con trẻ ân sủng của Người, và nó nhảy mừng, và mọi người trong nhà Ítraen yêu mến con trẻ...”.
Lễ này được cử hành bên Tây phương từ thế kỷ thứ IX tại các đan viện bên Ý, rồi sau đó lan tràn tới bên Anh. Vào năm 1373, Đức Giáo Hoàng Grégoire XI sống tại thành Avignon (Pháp) bắt đầu cho cử hành lễ Đức Mẹ dâng mình trong Đền thờ. Đây cũng là do công lao của một hiệp sĩ, Philippe de Mézièrès, sau thời gian sống bên Đông phương đã về phổ biến lễ này bên Tây phương với hy vọng tìm nối kết lại với anh em Hy lạp và Đức Giáo Hoàng Sixte IV ghi vào lịch phụng vụ vào năm 1472.