Chủ Nhật, 16 tháng 10, 2016

Thứ Ba Thánh Luca Tác Giả Sách Tin Mừng Lễ kính Lc 10,1-9.

Lời Chúa: Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít.
Ha-lê-lui-a. Chúa nói: Chính Thầy đã chọn anh em từ giữa thế gian, để anh em ra đi, sinh được hoa trái, và hoa trái anh em tồn tại. Ha-lê-lui-a.
Chúa công minh trong mọi đường lối Chúa,
đầy yêu thương trong mọi việc Người làm.
Chúa gần giũ tất cả những ai cầu khẩn Người,

mọi kẻ thành tâm cầu khẩn Người.

Ngày 18/10-Thánh Luca, Thánh sử
Thánh Luca là tác giả một trong bốn sách Phúc Âm và sách Công Vụ Tông Đồ. Theo như các thư của thánh Phao lồ thì thánh Luca là người ngoại trở lại và đã tháp tùng thánh Phao lồ trong các hành trình truyền giáo và đã có mặt với thánh Phao lồ trong những ngày cuối cùng khi ngài bị giam trong tù.Trong thư của thánh Phao lồ gởi cho tín hữu Côlôxê, thánh Luca được đề cập đến như một thầy thuốc. Tính chất này có thể tìm thấy trong sách Phúc Âm khi thánh Luca kể chuyện về các bệnh nhân được Chúa Giêsu chữa lành. Theo như nhiều học giả giải thích Kinh Thánh thì thánh Luca muốn nêu lên rằng: Chúa Giêsu chính là “Đấng chữa lành một thế gian đang đổ nát”.
Sách Phúc Âm của thánh Luca chú trọng đến những người nghèo, những người sống bên lề xã hội, những đàn bà con nít và những kẻ thấp hèn. Khi kể về Chúa giáng trần, thánh Luca nêu lên niềm tin của Đức Bà Maria, nhấn mạnh đến sự khiêm nhường nghèo nàn nơi Chúa sinh ra, nâng cao niềm hy vọng của những người nghèo khó. Sách Phúc Âm của thánh Luca có đoạn kể lại sứ vụ của Chúa Giêsu trong đền thờ ở Nazaret với bài trích từ sách tiên tri “Isaia”, “Thấn khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn… đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả tự do cho người bị áp bức, tuyên bố một năm hồng ân của Chúa”. Trong sách cũng nhắc đến các “Mối Phúc Thật”. Chúa Giêsu công bố: “Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì nước Thiên Chúa là của anh em”. Đến câu chuyện dụ ngôn về người giàu có và người ăn xin Lazarus nói lên lòng thương xót và sự công chính ở đời này và đời sau.
Suốt sách Phúc Âm của thánh Luca được cảm ứng từ sự nghèo nàn của Chúa Giêsu và sứ vụ của Chúa đối với những người nghèo. Thánh Luca chưa bao giờ được gặp gỡ Chúa Giêsu, nhưng những điều thánh Luca ghi lại chính là niềm tin về Chúa Giêsu Phục Sinh hiện hữu giữa các cộng đoàn tín hữu mà thánh Luca đã ghi lại trong sách Công Vụ Tông Đồ. Trong bốn sách Phúc Âm thì sách của thánh Luca diễn tả một sức sống tiềm tàng với sự hiện diện của Chúa trong diễn tiến của lịch sử. Bởi vậy sách Tin Mừng của thánh Luca không dừng lại với sự Phục Sinh của Chúa Giêsu mà còn kéo dài đến Chúa Thánh Thần Hiện Xuống và sự hiện diện của Chúa Giêsu trong sự sống của Giáo Hội lữ hành trên trần thế.

Thứ Bảy, 15 tháng 10, 2016

Ngày 17/10- 1799-1833 Thánh Isidôrô Gagelin, Kính .Linh Mục Thừa Sai Parisas tử Đạo

* Mục tử nhân lành.
"Chúng tôi đã từ bỏ gia đình, quê hương và tất cả lợi lộc trần thế, để chỉ truyền giảng Tin Mừng".

Từ chối chức quan do chính vua Minh Mạng trao ban, cha Gagelin Kính chứng tỏ mình chỉ mong thi hành xứ mệnh linh mục cao quý "Loan báo tin mừng cho muôn dân" (Mc 13,10). Lòng nhiệt thành mục tử thúc bách ngài không ngừng đi khắp nơi để ban phát các bí tích. Chính vì yêu thương giáo hữu, ước mong họ được bình an, cha đã tự nguyện hiến mình vì đoàn chiên (Ga. 15,13). Ngài thực là gương mẫu sáng ngời cho các thế hệ.

* Túp lều Việt Nam hơn hoàng cung nước Pháp.
Isidôrô Gagelin sinh ngày 10.5.1799, tại Montperreux, giáo phận Besancon, nước Pháp. Cậu Gagelin có ý tưởng theo ơn thiên triệu ngay từ nhỏ, và từng tâm nguyện "Tôi muốn làm linh mục". Lớn lên, sau bốn năm học đại chủng viện giáo phận, năm 1819, thầy gia nhập Hội Thừa Sai Paris. Tháng 9.1821, Đức cha Labartette Bình, Giám mục giáo phận Đàng Trong, truyền chức linh mục cho thầy Gagelin Kính, khi mới 22 tuổi.
Thời ấy, vua Minh Mạng mới lên ngôi, bầu khí tự do tín ngưỡng do vua cha (Gia Long) để lại chưa phai nhạt. Linh mục Gagelin Kính vừa nhận chức giáo sư chủng viện An Ninh, Quảng Trị, vừa thi hành công tác mục vụ tại vùng lân cận. Cha gửi tâm sự về quê nhà năm 1823: "Những thiếu thốn, những cực nhọc đủ thứ đến với chúng tôi, nhưng tôi dám khẳng định rằng: tôi được hạnh phúc trong túp lều tranh của tôi hơn vua nước Pháp ở trong hoàng cung của ngài".
Dần dần vua Minh Mạng áp dụng chính sách bách hại đạo ngày càng mãnh liệt hơn. Bề trên Thomassin đã phải di tản chủng viện An Ninh và cử cha Kính vào Sài Gòn, là khu vực Tả quân Lê văn Duyệt không áp dụng đường lối bài Công Giáo. Cha thường thực hiện sứ vụ tông đồ nơi các họ đạo vùng Sài Gòn, Bà Rịa, và đào tạo chủng sinh tại Lái Thiêu.
* Ngôn sứ Tin Mừng.
Năm 1827 cha Kính được vua Minh Mạng triệu về kinh cùng với các giáo sĩ Tây phương khác. Vua lấy cớ cần người dịch sách và làm thông ngôn cho triều đình, nhưng với hậu ý cản ngăn việc truyền giáo.
Nhận được lệnh triệu tập thứ ba, cha Kính mới lên đường về kinh đô. Tại đây, cha gặp hai thừa sai khác là cha Tabert Từ, cũng thuộc Hội Thừa Sai Paris và cha Odôricô Phương, dòng Phanxicô, đã trình diện nhà vua trước ngài.
Để trấn án hoặc để có thể che giấu ác ý, nhà vua đề nghị ban chức quan cho các cha, nhưng các cha từ chối. Cha Kính bày tỏ lập trường trong thư gửi về Pháp :
"Tôi nói dứt khoát với ông quan do vua sai đến ban ân huệ cho chúng tôi. Tôi cho ông biết rõ mục đích chúng tôi sang đây làm gì, và chức linh mục cao trọng hơn chức quan dường nào. tôi cũng nói rõ chúng tôi đã từ bỏ gia đình, quê hương và tất cả những lợi lộc trần gian để chỉ truyền giảng Tin Mừng thì không dễ gì chúng tôi từ bỏ nhiệm vụ này. Tuy nhiên, những công việc nào có thể dung hòa với nhiệm vụ của chúng tôi thì chúng tôi sẵn sàng giúp đỡ nhà vua".
Tả quân Lê Văn Duyệt, người đã tống đạt lệnh vua và khuyên ba giáo sĩ Tây Phương về kinh đô, khi nhận thấy các ngài bị giam lỏng, chính ông đã về triều đình vào tháng 08 năm 1827 để thuyết phục vua Minh Mạng giữ lời hứa. Tuy không muốn, nhà vua buộc lòng phải trả tự do cho ba linh mục.
Ngày 01.6.1828, cha Kính lên đường trở về Đồng Nai, rồi đi thăm viếng các họ đạo tại miền Nam, từ Đồng Nai, Vũng Tàu đến miền Lục Tỉnh, Hà Tiên. Ngài vừa lo hướng dẫn chăm sóc dân Chúa, vừa truyền giảng tin Mừng cho dân tộc Chàm ở Bình Thuận và Campuchia ở Bắc Hà Tiên. Nhưng các sắc dân này tin theo đạo rất ít. Năm 1829, ngài trở về chủng viện Lái Thiêu, được Đức cha Talbert Từ bổ nhiệm làm Bề trên giáo phận và cử ra hoạt động ở miền Trung.

* Hiến mình vì đoàn chiên.
Cha Bề trên Kính bắt dầu hoạt động mục vụ tại tỉnh Phú Yên, rồi tới Bình Định, Quảng Ngãi (1830). Cha đi bộ từ họ này sang họ khác, dầu xa hay gần, lớn hay nhỏ để giảng dạy, dâng lễ, giải tội và ban phép thêm sức cho các giáo hữu. Tất cả những ai quen biết cha, và làm chứng trong cuộc điều tra phong thánh, đều đồng thanh khen ngợi đức hiền từ, lòng đạo đức, tinh thần khó nghèo khổ hạnh và chính trực trong đời sống của ngài.
Ngày 06.01.1833, vua Minh Mạng ra chiếu chỉ cấm đạo gắt gao. Nhiều thân hữu khuyên cha nên tạm hồi hương một thời gian, cha thẳng thắn trả lời : "Một công dân có nhiệm vụ thi hành nghĩa vụ quân sự, huống chi tôi được trao chức vụ lãnh đạo, sao có thể thoái thác trách nhiệm của mình được". Thế là dù thời buổi khó khăn, cha vẫn tiếp tục hăng say trong sứ mệnh, thăm hỏi an ủi giáo dân, giảng đạo và rửa tội nhiều người Thượng ở Bình Định. Được một vị quan thân hữu mật báo sẽ có cuộc truy bắt các linh mục Tây Phương, cha lẩn tránh ít lâu. Nhưng khi thấy nhiều giáo hữu bị bắt bớ, đau lòng trước cảnh đàn chiên tan tác, cha liền viết thư xin phép đức Giám mục cho ngài ra nộp mình, hy vọng nhờ đó giáo hữu khỏi bị bách hại. Đức cha Từ chấp thuận. Thế là ngài đến trình diện với quan tri huyện Bồng Sơn (Bình Định) vào tháng 5.1833, sau đó cha bị giải về kinh đô.

* Tôi muốn thành tro bụi để kết hiệp với Đức Kitô.
Đến Huế ngày 23.8.1833, cha bị giam ở trấn phủ với cha Jaccard Phan, cũng thuộc Hội Thừa Sai Paris và cha Odôricô Phương, dòng Phanxicô, bị bắt ở Cái Nhum. Cha Phương qua đời năm 1834 sau sáu tháng lưu đày ở khu đèo Lao Bảo, ranh giới Ai Lao.
Suốt bẩy tuần lễ bị giam cầm, cha Bề trên Kính không bị thẩm vấn lần nào. vua Minh Mạng đã quá rõ, không thể lay chuyển đức tin can trường của cha.
Kể từ ngày 12.10, quân lính xiềng xích chân tay cha, canh gác nghiêm ngặt hơn và cấm không cho giao tiếp với người khác. Linh mục Jaccard Phan, nhờ có liên hệ với triều đình, báo tin cho cha biết ngày hành quyết sắp đến. Cha Kính liền gửi thư phúc đáp, bày tỏ niềm hân hoan vô tả khi được đổ máu làm chứng cho Chúa. ngài cũng nhờ cha Phan thông báo cho Đức Giám mục, cho các Bề trên Hội Thừa Sai Paris và gia đình. Cha viết tiếp : "Tôi từ giã cõi đời không hề thương tiếc sự gì, chỉ nhìn lên Chúa Giêsu chịu đóng đinh, đủ an ủi tôi về mọi điều đau khổ và cả cái chết nữa. Tất cả ước vọng của tôi là sớm thoát khỏi thân xác tội lỗi này, để kết hợp cùng Chúa Giêsu trong nơi vĩnh phúc. Tôi muốn thành tro bụi để kết hiệp với Chua Giêsu".
Vua Minh Mạng giữ bí mật bản án đến phút chót. Sáng sớm ngày 17.10.1833, một đội lính đến ngục thất, áp giải cha Kính, họ còn nói rằng cha được mời sang ngục khác. Cha hiểu ngay giờ sau hết đã điểm, cha hỏi: "Có phải các ông đưa tôi đi xử tử không ?" Họ đáp: "Thưa phải". Thế là ngài vui vẻ mau mắn cùng đòan hành quyết lên đường. Đến đầu cầu ngăn cách kinh thành với khu ngoại ô Bãi Dâu, bốn người lính đỡ bốn góc chiếc gông nặng nề đè lên cổ vị tử đạo. Các lính khác võ trang gươm giáo đi hai bên, hai quan lớn cưỡi ngựa đi sau, dân chúng đi xem rất đông. Một người lính giơ cao tấm thẻ ghi bản án. Cứ đi khoảng một trăm bước, người lính đó dừng lại, đánh mấy tiếng cồng, rồi đọc bản án như sau:
"Dương nhân Hoài Hóa mang tội truyền giảng đạo Gia Tô tại nhiều tỉnh nước ta, nên phải xử giảo" (Hoài Hóa là chữ Hán do các quan dịch tên cha Gagelin).
Đến pháp trường, vị linh mục bình tĩnh quỳ xuống cầu nguyện, mặc cho quân lính thi hành nhiệm vụ. Họ trói ngài vào chiếc cọc giữa, lấy giây vòng quanh cổ, rồi cuốn hai đầu dây vào hai cọc hai bên. Hiệu lệnh thứ nhất ban ra, tiểu đội quân lính cầm lấy hai dầu dây. Đến hiệu lệnh thứ hai, họ kéo thật mạnh, trong khoảnh khắc, vị chứng nhân Chúa Kitô chút hơi thở cuối cùng.
Một học trò cũ của cha Odôricô và một thầy giảng của cha Phan xin phép nhận thi hài thánh tử đạo đem về an táng tại một tư gia ở phủ Cam. Vì nghi ngờ môn đệ Chúa Kitô sống lại sau ba ngày, vua Minh Mạng truyền khai quật mồ vị tử đạo, khám nghiệm kỹ lưỡng, rồi mới yên lòng cho chôn lại. Thế mà vẫn phân vân, vua truyền cho dân làng Phủ Cam trông canh giữ mồ, nếu vị tử đạo sống lại, hay người ta lấy mất thi hài, họ sẽ phải đền mạng. Trong các thư của cha Phan và Đức cha De la Motte Hậu có ghi chép sự việc hy hữu trên. Năm 1946, thi hài thánh tử đạo Gagelin Kính được đưa về chủng viện Hội Thừa Sai Paris.
Ngày 27.05.1900, Đức Lêo XIII đã suy tôn ngài lên bậc Chân Phước. Ngày 19-06-1988, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh.

Thứ Hai Tuần 29 Thường Niên Lc 12,13-21.

Lời Chúa: Những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ vế tay ai ?.
Ha-lê-lui-a. Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ. Ha-lê-lui-a.
Hãy nhìn nhận Chúa là Thượng Đế,
chính Người đã nên ta, ta thuộc về Người,

ta là dân Người, là đoàn ciên Người chăn dắt.

Ngày 17/10-Thánh Inhaxiô Antiôkia, Giám mục Tử đạo (qua đời năm 107?)
Người ta nói rằng: Thánh Inhaxiô thành Antiôkia chính là đứa trẻ mà Chúa Giêsu đã ôm vào lòng và đặt giữa các tông đồ để làm gương mẫu về lòng trong trắng và đức khiêm tốn Kitô giáo. Vài tác giả còn quả quyết rằng: Ngài là đứa trẻ đưa năm chiếc bánh và hai con cá cho Chúa Giêsu làm pháp lạ nuôi 500 người ăn. Điều chắc chắn là Ngài đã được đặt làm giám mục thứ nhì kế vị thánh Phêrô tại Antiôkia khoảng năm 68, sau khi thánh giám mục Evôda qua đời. Suốt bốn muôi năm cai quản giáo phận, kể cả những năm bị bách hại dưới triều Domitianô, Ngài đã tỏ ra là một giám mục gương mẫu về mọi nhân đức.
Mười lăm năm bình lặng sau cái chết của bạo vương Domitianô qua đi, cơn bách hại lại nhen nhúm ở vài tỉnh dưới thời Trajanô. Vị hoàng đế cuồng tín này cho rằng: mình đạt được nhiều chiến thắng là nhờ các thần minh. Ong coi việc bách hại các tín hữu Chúa là một nghĩa cử để tỏ lòng biết ơn các thần minh. Tháng giêng năm107, ông tới Antiôkia. Được biết tại đây có giám mục Inhaxiô đã không vâng lệnh thờ cúng tượng thần, lại còn ngăn cản người khác, ông truyền điệu Ngài tới để xét hỏi. Sau khi đe dọa và dụ dỗ đủ cách mà vô hiệu, ông kết án vị giám mục thánh thiện này phải điệu về Roma cho thú vật xâu xé.
Cuộc hành trình về Roma mang sắc thái một cuộc khải hoàn. Mỗi khi con tàu dừng bến nào, dân chúng đều tuốn đến chào kính vị tử đạo. Nhân dịp này thánh Inhaxiô có dịp tiếp xúc với nhiều giáo đoàn và đã viết bảy bức thư cho các Giáo hội. Tuy vậy, chuyến đi không dễ chịu gì. Bọn lính áp giải đã cố tình hành hạ thánh nhân để mong được các tín hữu ngưỡng mộ Ngài đút lót tiền bạc. Thánh nhân viết với lòng khiêm tốn:
- Trên đất liền hay ngoài biển khơi, ngày đêm tôi phải chiến đấu với các súc vật, bị xiềng vào mười con sư tử. Tôi muốn nói là những người lính canh giữ tôi. Người ta càng cho tiền, họ càng hung dữ. Những người đối xử tàn tệ của họ là trường đào luyện tôi mọi ngày, nhưng không phải vì vậy mà tôi được nên công chính đâu".
Ở Smyrna, thánh Inhaxiô đã gặp thánh Pôlycarpô. Vị giám mục thánh thiện này cũng là môn đệ của thánh Gioan như thánh Inhaxiô. Thánh Pôlycarpô đã hôn xiềng xích của người bạn lừng danh. Tại đây thánh Inhaxiôco có dịp gặp đại diện của nhiều Giáo hội tới thăm. Biết rằng ở Ahila Delphia có sự chia rẽ trong hàng giáo sĩ, Ngài đã viết thư khuyên nhủ họ:
- Hãy tránh xa những phân rẽ và các giáo thuyết nguy hiểm. Hãy theo mục tử các bạn khắp nơi như đoàn chiên. Tôi vui sướng hết mực những góp phần củng cố đức tin các bạn, nhưng không phải do tôi mà do Chúa Giêsu Kitô. Được mang xiềng xích vì danh Chúa, hơn lúc nào, tôi cảm thấy mình còn quá xa sự trọn lành. Nhưng kinh nguyện của các bạn sẽ làm cho tôi được xứng đáng với Thiên Chúa và với di sản mà lòng nhân từ và đã dọn sẵn cho tôi.
Các thư của các thánh nhân gửi riêng cho mỗi nơi, Ngài ca tụng tinh thần kỷ luật của tín hữu Manhêsianô (Magnésiens) : - Tôi hãnh diện được gặp các bạn nơi cá nhân đức giám mục Damas của các bạn. Tuổi trẻ của Ngài không được nên cớ để các bạn suồng sã với Ngài. Các bạn cần phải tôn kính chính Thiên Chúa là Cha nơi Ngài.
Với dân Trallianô (Tralliens) Ngài viết : - "Hãy yêu thương nhau. Xin cầu nguyện cho tôi nữa. Tôi cần đức ái và lòng nhân hậu Chúa để được nhận vào hưởng gia nghiệp mà tôi đã sẵn sàng chiếm hữu".
Nhưng Ngài sợ dân Rôma, vì nhiệt tâm mà cất mất triều thiên tử đạo của mình. Nhờ một du khách đi Italia, Ngài khẩn khoản : - "Các bạn không thể trao tặng cho tôi một bằng chứng quí mến nào khác, là để cho tôi được tế hiến mình cho Thiên Chúa. Ân huệ tôi van xin các bạn là hãy hát bài ca cám tạ ơn Chúa mà nhờ công nghiệp Chúa Giêsu Kitô, Đức giám mục Smyrna bên Tây phương đã được, để Ngài được đưa vào vinh quang. Hãy để cho tôi thành của ăn nuôi thú vật, hầu tôi được vui hưởng Thiên Chúa, Tôi là hạt lúa mì của Thiên Chúa. Tôi cần được răng thú dữ nghiền nát để trở thành bánh tinh tuyền của Chúa Kitô.
Tốt hơn, hãy săn sóc các thú vật này để chúng thành nấm mồ của tôi. Chính lúc này tôi đang trở nên một môn đệ chân chính. Chớ gì những hình khổ độc dữ nhất đổ xuống mình tôi, miễn là tôi được Chúa Giêsu Kitô. Được cả thế gia này nào có ích lợi gì cho tôi ? Tôi chỉ ước mong được kết hiệp với Chúa Giêsu Kitô...
Ngài còn viết thêm : - Ước mơ của tôi là được đóng đinh vào thập giá. Trong tôi chỉ có một dòng nước hằng sống vẫn rì rầm lời kêu gọi : Hãy về với Cha". Thánh nhân còn viết nhiều điều khác nữa, bàn về chân lý đức tin, kỷ luật Giáo hội và những sai lầm nguy hại.
Ngày 20 tháng 12 năm 107 là ngày cuối cuộc vui cũng là ngày thánh Inhaxiô tới Roma. Sau khi đọc bức thư của nhà vua, quan tổng trấn truyền đem thánh nhân đến thẳng hí trường. Dân chúng đang tụ họp đông đảo. Ngài lập lại câu nói đã viết trong trường hợp gửi dân Roma : "Tôi là hạt lúa mì của Thiên Chúa. Tôi cần được răng thú dữ nghiền nát để trở thánh bánh tinh tuyền của Chúa Kitô". Hai con sư tử gầm rống và bổ tới thánh nhân mà cắn xé. Người ta kính cẩn thu nhặt những khúc xương còn lại và đưa về Antiôkia. Dưới thời Hêracliô, xương Ngài lại được đưa về Roma.

Thứ Sáu, 14 tháng 10, 2016

Chúa Nhật XXIX Thường Niên Năm C

Lời Chúa: Thiên Chúa minh xét cho những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người.
      Khi ấy, Đức Giê-su kể cho các môn đệ dụ ngôn sau đây, để dạy các ông phải cầu nguyện luôn, không được nản chí. Người nói: “Trong thành kia, có một ông quan toà. Ông ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì. Trong thành đó, cũng có một bà goá. Bà này đã nhiều lần đến thưa với ông: ‘Xin ngài bênh vực tôi chống lại kẻ kiện tôi’. Một thời gian khá lâu, ông không chịu. Nhưng cuối cùng, ông ta nghĩ bụng: ‘Dầu rằng ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì, nhưng mụ goá này quấy rầy mãi, thì ta bênh vực mụ cho rồi, kẻo mụ ấy cứ đến hoài, làm ta nhức đầu nhức óc.”
     Rồi Chúa nói: “Anh em nghe quan toà bất chính ấy nói đó! Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không bênh vực những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người, dù Người có trì hoãn? Thầy nói cho anh em biết, Người sẽ mau chóng bênh vực họ. Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?”
SUY NIỆM & CẦU NGUYỆN
      Bài Tin Mừng hôm nay. Chúa Giêsu nói với chúng ta cần phải cầu nguyện và đừng nãm lòng, Ngài đưa ra hình ảnh một ông quan toà không kính sợ Thiên Chúa mà cũng chẳng kiêng nể ai. Thế rồi một bà goá đến tìm ông và đòi được xét xử công bằng lần này qua lần khác, vị quan toà từ chối bà, thì bà lại đến vào một lần khác nữa. Sau cùng để khỏi bị quấy rầy, vị quan toà đã nghe bà và minh oan cho bà, và chúng ta thấy đó. Thiên Chúa cũng sẽ lắng nghe và nhận lời chúng ta, nếu chúng ta biết kiên nhẩn và cầu nguyện, chắc chắn Ngài sẽ nhận lời cầu xin của con cái mình.
      Đó là lý do, Chúa muốn chúng ta cầu nguyện và không nản chí. Nếu chúng ta ngưng cầu nguyện, thì chúng ta sẽ mất đi nhiệt tình và bỏ cuộc. Nếu chúng ta cầu nguyện liên tục, chúng ta sẽ không bao giờ mất nhiệt tình. Cầu nguyện có nghĩa là đặt chính mình trong bàn tay quan phòng của Thiên Chúa, chúng ta cầu nguyện có nghĩa là chúng ta trông cậy vào sức mạnh của Thiên Chúa chứ không phải sức mạnh của chúng ta. Khi chúng ta cầu nguyện một thứ quyền lực khác trở thành có hiệu lực đối với chúng ta.

      Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, xin hướng lòng chúng con về với Chúa. Giúp chúng con kiên trì cầu nguyện với Chúa không ngừng, xin Chúa dạy chúng con cầu nguyện. Để linh hồn, thể xác và trí khôn chúng con luôn hướng về Chúa.  Amen

Ngày 16/10- (1647–1690) Thánh MARGARITA ALACOQUE, đồng trinh
Thánh Margarita Maria Alacoque sinh năm 1647 trong một gia đình quý phái miền Autun, nước Pháp. Ngay từ những năm thơ ấu, ngài đã có một lòng đạo đức sốt sắng. Ngài đặc biệt tôn kính Ðức Mẹ và Thánh Tâm Chúa. Chúa đã gửi cho ngài nhiều đau khổ để thử thách, nhưng ngài vẫn một lòng tin cậy vào Chúa. Ngày 20-06-1671, thánh nữ chính thức gia nhập dòng Ðức Mẹ Thăm Viếng, và ngày 26-10-1672, ngài được khấn trọn đời. Thấy ngài nhân đức, ma quỷ ra sức cám dỗ, nhưng ngài vẫn không hề thay đổi ý định. Ngài được Chúa cho xem nhiều thị kiến. Một lần kia, trong lúc chầu Thánh Thể, ngài thấy Thánh Tâm Chúa hiện ra với ngọn lửa bừng cháy và những gai nhọn đâm thâu vì quá yêu thương loài người, nhưng loài người lại hững hờ và xúc phạm đến Chúa. Chúa đã truyền cho ngài tổ chức việc tôn thờ Thánh Tâm cách công khai, và hứa sẽ ban nhiều đặc ân cho kẻ thành tâm thi hành việc đạo đức này (1675). Tuy nhiên, ngài gặp phải bao khó khăn vì chị em, vì Bề Trên không muốn chấp nhận. Ngài vẫn âm thầm chịu đựng và luôn kết hợp mật thiết với Chúa trong việc tôn sùng Thánh Tâm. Về sau, một chị bạn thân thiết với ngài lên làm Bề Trên. Vì hiểu rõ tâm hồn sốt mến của ngài, nên đã cho phép ngài được tổ chức việc tôn sùng này. Từ đó, việc tôn sùng này được phổ biến không những trong Dòng mà còn lan dần cả thế giới.
Thánh nữ rất vui mừng và chỉ mong được chia sẻ mọi đau khổ để đền vì tội lỗi nhân loại. Ngày 16-10-1690, ngài đã trút linh hồn bình an.
Thánh nữ được phong Hiển Thánh ngày 13-03-1920 dưới triều Ðức Giáo Hoàng Bênêđictô XV. Ðức Giáo Hoàng Piô XI đã truyền mừng kính trọng thể lễ này trong toàn thể Giáo Hội năm 1929.

Ngày 16/10-1174–1243- Thánh HEDVIGA, nữ tu
Thánh nữ Hedviga sinh năm 1174, trong một gia đình đạo đức thuộc hoàng tộc. Trong số 8 anh chị em, có hai anh làm Giám Mục, một em gái làm Bề Trên tu viện và một người là thánh nữ Elisabeth, hoàng hậu nước Hung. Từ nhỏ, thánh nữ đã tỏ ra thông minh và đạo đức. Khi tới tuổi trưởng thành, ngài kết hôn cùng Henri, quận công nước Ba Lan, năm 1186. Nhờ nhân đức và lòng đạo hạnh, ngài đã cải hóa được người chồng hoang đàng. Ngài sinh hạ được 7 người con, nhưng Chúa sớm cất về chỉ còn lại người con gái thứ 3 sau làm Bề Trên tu viện.
Thánh nữ ham thích cầu nguyện, ăn chay và hãm mình. Năm 1209, ngài và quận công Henri đã cùng nhau thề nguyền sống thủ tiết. Mỗi người vào một nhà dòng để thanh luyện tâm hồn và kết hợp với Chúa. Trong cuộc sống mới, ngài đã nêu cao tinh thần vui vẻ và phục vụ. Thấy ngài đã có tuổi nên Bề Trên nhà dòng, cũng là con gái thứ ba của ngài, muốn châm chước những luật nghiêm nhặt cho ngài. Nhưng ngài từ chối và xin được đối xử như mọi chị em khác. Thánh nữ còn là một mẫu gương sáng chói: ngài thường an ủi giúp đỡ những người nghèo khó. Chính ngài đã rửa vết thương và băng bó cho những người bị phong cùi.
Với đời sống thánh thiện, Chúa đã cho thánh nữ làm nhiều phép lạ và đã cho ngài biết trước giờ chết. Sau hai tuần lâm bệnh, ngài đã trút linh hồn trong tay Chúa vào ngày 15-10-1243.
Hai mươi bốn năm sau, ngài được Ðức Giáo Hoàng Clêmentê IV phong lên bậc Hiển Thánh và được tôn làm quan thầy các bà mẹ Công Giáo và toàn nước Ba Lan năm 1267.

Thứ Năm, 13 tháng 10, 2016

Thứ Bảy Thánh Têrêsa Giêsu trinh nữ, tiến sĩ Hội Thánh Lễ nhớ Lc 12,8-12.

Lời Chúa: Ngay trong giờ đó, Thánh Thần sẽ dạy cho anh em biết những điều phải nói.
Ha-lê-lui-a. Chúa nói: Thần Khí sự thật sẽ làm chứng về Thầy. Cả anh em nữa, anh em cũng làm chứng về Thầy. Ha-lê-lui-a.
Chúa cho con người chẳng thua kém thần linh là mấy,
ban vinh quang danh dự làm mũ triều thiên,
cho làm chủ công trình tay Chúa sáng tạo,

đặt muôn loài muôn sự dưới chân.

Ngày 15/10-Thánh Têrêsa Avila, Trinh nữ Tiến sĩ (1515-1582)
Thế kỷ XVI là thời gian rối loạn và cải cách. Cuộc đời bà bắt đầu với cao điểm của thời Cải cách của Tin Lành (Protestant Reformation), và chấm dứt sau Công đồng Trentô. Bà có 3 điều gây ấn tượng: là phụ nữ, chiêm niệm, và tích cực cải cách.
Bà tu Dòng Kín dù người cha phản đối dữ dội. Bà là mỹ nhân có tài, thân mật, thoải mái, dễ thích nghi, có lòng trắc ẩn, can đảm, nhiệt thành, và rất nhân bản. Cũng như Chúa Giêsu, bà là một bí ẩn của những nghịch lý: khôn ngoan mà thực tế; thông minh mà hài hòa kinh nghiệm; thần bí mà cải cách tích cực và thánh thiện.
Bà là người sống vì Chúa, phụ nữ của sự cầu nguyện, kỷ luật và trắc ẩn. Bà bị hiểu lầm, bị phê phán oan sai, bị chống đối vì cải cách. Nhưng bà vẫn cương quyết, can đảm và trung tín. Bà chiến ấu với tính tầm
thường của mình, với bệnh tật và với sự chống đối, nhưng bà vẫn trung thành với Thiên Chúa và cầu nguyện. Bà là người sống vì tha nhân, luôn canh tân chính mình và Dòng Kín, hướng dẫn chị em sống đúng luật dòng.
Năm 1970, Giáo hội tôn phong bà là Tiến sĩ Giáo hội. Bà và thánh Catherina Siena là những phụ nữ đầu tiên được nhận danh hiệu này.

Thứ Tư, 12 tháng 10, 2016

Thứ Sáu Tuần 28 Thường Niên Lc 12,1-7.

Lời Chúa: Tóc trên đầu anh em cũng được đếm cả rồi.
Ha-lê-lui-a. Xin đổ tình thương xuống chúng con, lạy Chúa, như chúng con hằng trông cậy nơi Ngài. Ha-lê-lui-a.
Vì lời Chúa phán quả là ngay thẳng,
mọi việc Chúa làm đều đáng cậy tin.
Chúa yêu thích điều công minh chính trực,

tình thương Chúa chan hòa mặt đất.

Ngày 14/10-Thánh Callistô I, Giáo hoàng Tử đạo (qua đời năm 223?)
Ngài là nô lệ của một gia đình hoàng đế La Mã. Có lần ngài bị nghi ăn cắp tiền nên bị xử tệ, ngài đã bỏ trốn nhưng bị bắt lại. Sau khi được giải oan, ngài được phóng thích. Ngài bị bắt vì cãi nhau trong hội đường Do Thái, và bị đi cải tạo lao động ở vùng mỏ tại Sardinia. Một thời gian sau ngài được phóng thích.
Sau đó ngài được cai quản khu chôn cất người Kitô giáo ở Rôma (vẫn được gọi là Thánh địa Thánh Callistô), có thể đây là khu đất đầu tiên của Giáo hội. Đức Giáo Hoàng truyền chức phó tế cho ngài, coi ngài là bạn và là người cố vấn. Sau đó ngài được bầu làm Giáo Hoàng, rồi bị chống đối từ ngụy giáo hoàng là Hippôlytô, Cuộc ly giáo này kéo dài 18 năm.
Rồi Hippôlytô trở lại, qua đời tại Sardinia và được phong thánh. He was banished during the persecution of 235 and was reconciled to the Church. Thánh Hippôlytô đã từng kết án thánh Callistô là quá nhân hậu, vì các lý do: (1) Callistô cho các hối nhân được rước lễ, dù họ đã phạm tội sát nhân, dâm dục và gian dâm; (2) Callistô cho phép phụ nữ kết hôn với người nô lệ – ngược với luật La Mã; (3) Callistô chấp nhận truyền chức cho các đàn ông đã kết hôn 2 hoặc 3 lần; (4) Callistô cho rằng tội trọng là lý do đủ để truất quyền một giám mục; (5) Callistô ban hành chính sách khoan hồng đối với những người bội giáo tạm thời trong khi bị bách hại.
Thánh Callistô tử đạo trong thời gian náo động ở Trastevere, Rôma, và là vị giáo hoàng đầu tiên (trừ thánh Phêrô) được kính nhớ là thánh tử đạo trong thời Giáo hội sơ khai. Ngai2 d9uo75c coi la2 mot65 trong các vị giáo hoàng vĩ đại nhất.

Thứ Ba, 11 tháng 10, 2016

Thứ Năm Tuần 28 Thường Niên Lc 11,47-54.

Lời Chúa: Thế hệ này sẽ bị đòi nợ máu các ngôn sứ, từ máu ông Aben đến máu ông Dacaria.
Ha-lê-lui-a. Chúa nói: Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy. Ha-lê-lui-a.
Hát lên mừng Chúa một bài ca mới,
vì Người đã thực hiện bao kỳ công.
Người chiến thắng nhờ bàn tay hùng mạnh,

nhờ cánh tay chí thánh của Người.

Ngày 13/10-Thánh Margaret Mary Alacoque, Trinh nữ (1647-1690)
Thánh Margaret Maria Alacoque được Chúa Giêsu chọn để khơi gợi lòng sùng kính Thánh Tâm. Những năm đầu đời bà ốm yếu. Bà viết: “Thánh giá nặng nhất của tôi là tôi không thể làm gì để làm nhẹ Thánh giá Đau khổ của mẹ tôi”. Bà đã định lập gia đình, nhưng rồi bà vào Dòng Đức Mẹ Thăm Viếng lúc 24 tuổi.
Là một nữ tu bình thường, nhưng bà vui với sự nhỏ bé này. Một người bạn tập sinh nói Margaret rất khiêm nhường, giản dị và chân thật, đặc biệt là kiên nhẫn chịu đựng người khác phê bình và sửa lỗi.
Ngày 21-12-1674, sau 3 năm đi tu, bà được Chúa Giêsu mạc khải. Bà cảm nhận sự hiện diện của Thiên Chúa, dù bà luôn sợ mình bị ảo tưởng về những vấn đề như vậy. Trong 13 tháng kế tiếp, Chúa Giêsu hiện ra với bà nhiều lần. Thánh Tâm Chúa là biểu tượng của tình yêu Thiên Chúa và nhân loại (divine-human love). Tình yêu của bà dành cho Chúa để bù đắp sự lạnh nhạt của thế giới – bằng cách thường xuyên rước lễ, nhất là vào thứ Sáu đầu tháng, và cầu nguyện vào đêm thứ Năm để suy niệm về cuộc sầu khổ của Chúa Giêsu trong Vườn Cây Dầu. Chúa Giêsu muốn lễ Thánh Tâm được thiết lập.
Linh mục giải tội cho bà là chân phước Claude de la Colombiere, tu sĩ Dòng Tên, đã nhận thấy sự thật và ủng hộ bà. Sau khi làm giáo tập và phụ tá bề trên, bà qua đời lúc 43 tuổi khi đang lãnh nhận bí tích Xức dầu. Bà nói: “Tôi không cần gì khác ngoài Thiên Chúa, và được đắm mình trong Thánh Tâm Chúa Giêsu”.