Thứ Sáu, 22 tháng 7, 2016

Ngày 24/07/1775 – 1838 Linh Mục Dòng Đaminh Thánh Giuse Fernandez Hiền Tử Đạo.

* Cuộc hội ngộ trong tù.
Khi bị thẩm vấn về các thừa sai, linh mục Fernandez Hiền liền nhận là có quen thân với hai Giám mục Delgado Y và Henares Minh. Cha xin quan cho gặp mặt vì biết hai vị đang bị giam cầm ở đây. Cuộc gặp kéo dài gần tiếng đồng hồ, mỗi vị một cũi. Nhưng cũng đủ để ba vị thủ lãnh giáo phận Đông trao đổi, an ủi và khích lệ nhau. Đức cha Delgado Y vì bệnh nặng nên ít nói hơn. Nhưng bỗng nhiên ngài hỏi cao giọng bằng tiếng Việt, chắc có ý cho quan quân nghe được : "Này cha bề trên phụ tỉnh, cha đã sẵn lòng tự nguyện để người ta chém đầu chưa ?" Không chút ngần ngừ, cha chính Hiền trả lời : "Dĩ nhiên đã sẵn sàng". Các quan và lính tráng có mặt hôm đó đều ngạc nhiên hết sức khi thấy những tù nhân của họ nói đến cái chết cận kề, mà vẫn bình tĩnh, nếu không nói là vui vẻ nữa.

Hai ngày sau, tâm tư của cha Hiền được khẳng định rõ hơn cho các quan : "Xin các ngài biết cho, không bao giờ tôi chà đạp Thánh Giá. Còn việc về nước (Tây Ban Nha) thì tôi không muốn, vì tôi đến đây với ước nguyện là giảng đạo Chúa Kitô, đạo chân chính duy nhất giúp con người sống tốt đẹp ở đời này và đạt hạnh phúc vĩnh cửu đời sau. Tôi sẵn sàng lấy máu mình để làm chứng cho người dân Việt biết đạo Thiên Chúa là đạo thật. Đó là mục đích và niềm vui của tôi".

* Hành trình rao giảng.
Giuse Fernandez sinh ngày 03.12.1775 trong một gia đình đạo đức ở Ventosa de la Cuesta, tỉnh Valladolid, giáo phận Avila, Tây Ban Nha. Cha mẹ cậu rất hân hoan khi cậu xin vào dòng Đaminh, và coi đó là một vinh dự cũng như đặc ân Chúa ban cho gia đình. Tại tu viện thánh Phaolô (ở Valladolid) cậu tuyên khấn ngày 02.08.1796, khi mới 17 tuổi. sau đó thầy Fernandez học triết lý và thần học, rồi được thụ phong linh mục.
Để thực hiện hoài bão truyền bá Tin Mừng cho miền Viễn Đông, cha Fernandez xin chuyển qua Tỉnh Hạt Rất Thánh Mân Côi và tới Manila (Phi Luật Tân) ngày 16.04.1805. Từ đây ngài đến Macao cùng với ba cha dòng Đaminh khác : Luis Villanova, Giacôbê Mateo và Manuel Gonzalez. Ngày 18.02.1806, bốn tu sĩ thuyết giáo theo một tàu của Anh vào bến Cửu Hàn (Đà Nẵng). Từ đây, bốn vị riệng rẽ đi bộ lên giáo phận Đông Đàng Ngoài, trời có bão, các thuyền bè không ai dám chở. Tháng 06 năm đó, cha Fernandez đến được trụ sở Bề trên phụ tỉnh.
Việt Nam thời này đang dưới quyền Gia Long, các thừa sai tương đối tự do giảng đạo. Sau một vài tháng học tiếng địa phương, vị tông đồ trẻ tuổi đã bắt tay vào công việc truyền giáo hăng say. Vốn bản tính hiền lành, khiêm tốn và nhã nhặn, cha Hiền được mọi người cả giáo lẫn lương đều quí mến. Nhờ đó cha đã giúp nhiều lương dân đón nhận đức tin, nhất là tại làng Xuân Dục.
Giáo xứ cha Hiền phụ trách lâu nhất là Kiên Lao, nơi cha đã nâng số tín hữu lên đến 5.000 khi cuộc bách hại của vua Minh Mạng bùng nổ. Từ đây cha phụ trách chủng viện của giáo phận. Năm 1837, sau một cơn bệnh kiết lỵ suýt chết, tỉnh dòng trao cho cha chức vụ Bề Trên Phụ Tỉnh. Cha vâng lời nhận trách nhiệm với sự trợ giúp của linh mục phụ tá Hermosilla Vọng. Tuy làm cha chính có vài tháng, cha đã phải lãnh trách nhiệm trong giai đọan bão tố của giáo phận Đông. Những lá thư của cha Viên bị tịch thu đã tố cáo sự hiện diện của các linh mục ngoại quốc tại Nam Định.
* Cô đơn và niềm an ủi.
Trong cơn truy lùng gắt gao của Tổng đốc Trịnh Quang Khanh năm 1838, cha Hiền đang ở chủng viện Ninh Cường, được giáo dân yêu cầu dọn đi nơi khác : "xin cha thương chúng con mà lánh đi nơi khác, kẻo nếu họ bắt được cha ở đây, chúng con sẽ mất hết tài sản và có lẽ mất cả đầu nữa". Thế là vị linh mục 63 tuổi đang mang trọng bịnh, đành phải ra về Quần Liêu, có hai thầy giảng theo giúp đỡ ngài.
Khi đến Quần Liêu, giáo hữu ở đây cũng lo sợ không kém bên Ninh Cường. Vì sợ liên lụy, họ đã xin ngài đừng ở lại. Một lần nữa cha Hiền và hai thầy giảng lại ra đi mà không biết đến đâu, vừa đi vừa nghĩ đến gương của Thầy Chí Thánh : "Cáo có hang chim trời có tổ, còn Con Người không chỗ gối đầu". Nhưng may mắn thay, đang tình trạng bế tắc đó thì một linh mục Việt Nam xuất hiện.
Cha Phêrô Tuần đang coi xứ Lác Môn khi biết tin, liền đến Quần Liêu can thiệp. Cha trách các tín hữu ở đây bội bạc, và yêu cầu họ cho cha Hiền lưu lại vài ngày. Cha Tuần cũng quyết định ở lại để tìm chỗ ẩn mới cho vị thừa sai. Hai ngày sau, hai cha vượt sông qua giáo phận Tây đàng Ngoài, ghé vào xứ Kim Sơn. Nhưng vừa đến nơi thì hay tin quan tỉnh Nam Định đã ra lệnh cho quan địa phương lùng bắt hai vị rồi. Dân xứ Kim Sơn vì thế không giám lưu giữ, họ mời hai vị linh mục lên một chiếc thuyền nhỏ rồi đưa các vị vào vùng xình lầy gần đó. Địa điểm này tuy an toàn không bị truy lùng, nhưng quả là gian khổ vì bùn lầy tanh hôi, ban ngày thì nắng cháy da, đêm về thì làm mồi cho muỗi đốt.

* Con đường thập giá.
Cũng may có cha xứ Kim Sơn khi biết tình trạng bi đát của hai chứng nhân đức tin liền tìm cách thu xếp. Hai ngày sau, ngài cho người rước hai cha về trú ở nhà ông Bát Biên (hàm Bát Phẩm), là người thọ ơn cha xứ nhiều lần. Hơn nữa ông này ngoại giáo nên ở đây an toàn hơn. Thực tế Bát Biên xử với hai vị rất tốt suốt tám ngày liền, trước khi lập mưu giao nộp để lãnh thưởng.
Đêm 18.06, ông ta nói dối rằng: "Con nghe tin quan biết hai cha ở đây, và quan quân sắp đến vây làng, con phải đem hai cha đi nơi khác, an toàn hơn". Rồi ông ta mời cha chính Hiền xuống thuyền đem nộp ngài cho quan quân trên bờ sông Qui hậu. Sau đó, về nói dối để chở cha Tuần đi nộp tiếp. Nhờ việc tố giác này, Bát Biên được vua Minh Mạng tăng thêm một cấp quan và thưởng cho 100 nén bạc.
Đêm hôm đó, hai môn đệ Chúa Kitô bị giam tại huyện, các ngài giải tội cho nhau và khích lệ nhau chịu đựng gian khổ dù phải chết. Sáng hôm sau, quân lính điệu hai cha lên Ninh Bình, cha Hiền bị nhốt trong cũi bằng tre, cha Tuần phải mang gông nặng. Ngày 22.06, hai cha được giải về Nam Định, các quan và lính võ trang ra đón hai cha giữa tiếng hò reo chiến thắng. Sau đó họ giam mỗi vị một nơi.
Ngồi bó gối trong cũi tại ngục Nam Định, cha Hiền phải chịu đói khát, và nhất là cơn nóng nực. có lẽ ngài đã chết tại đó nếu không được anh Đường, một tín hữu tốt bụng đến tiếp cứu. Anh đã bỏ tiền ra mua chuộc lính gác để được vào tiếp tế mỗi ngày một ít lương thực. Mấy ngày đầu, anh còn phải giúp ngài đưa từng miếng cơm, ngụm nước vào miệng vị linh mục quá kiệt sức đến độ tự mình không thể ăn uống được nữa.
Một tháng trong tù, nhiều lần cha bị đưa ra tòa để đối chất. Quan Tổng đốc mới Lê Văn Đức điều tra ngài về lý lịch, đến đây làm gì, bao lâu ? Cha cố trả lời vắn tắt để không liên lụy đến ai. Cha nói : "Từ ngày vua cấm đạo, chúng tôi mạnh ai nấy chốn, chẳng biết ai ở đâu cả". Quan hứa sẽ đặt cha làm thông dịch viên nếu chịu bỏ đạo, cha đáp : "Tôi đến đây không để phục vụ vua chúa trần gian này mà chỉ để rao giảng đạo Đức Chúa Trời thôi". Thế rồi, cha xin được gặp hai Đức cha đã bị giam trước, và bình tĩnh tỏ lòng sẵn sàng chết vì đức tin theo vị chủ chăn của mình. Thấy không thể làm cha bỏ đạo, đạp lên Thánh Giá, các quan họp nhau và nên án trảm quyết ngài. Bản án của cha và cha Tuần được vua Minh Mạng châu phê tới Nam Định ngày 18.07. Cha Phêrô Tuần vì tuổi già sức yếu, đã về với Chúa trước đó ba ngày.

* Giây phút vinh quang.
Sáng ngày 24.07, trước khi đem đi xử, các quan còn khuyên dụ cha Hiền lần cuối : "Lát nữa ông sẽ bị chém đầu nếu không đạp lên Thập Giá. Hãy quyết định lại đi, ông sẽ được tha về Âu châu". Vị chứng nhân trả lời: "Tôi không chịu đạp lên Thánh Giá, các ông muốn chém thì cứ chém". Sau đó nhốt cha trong cũi, các quan để mặc dân chúng đến xem chế nhạo. Họ kéo đến chửi mắng, bứt tóc giật râu hoặc thò tay đấm vào người cha.
Khoảng 02 giờ chiều, quan quân mới đưa vị linh mục đến pháp trường Bẩy Mẫu. Khi quân lính kéo ngài ra khỏi cũi và ném lên chiếu, ngài hầu như không gượng dậy nổi, phần vì đau mệt, phần thì đói lả, ngài nằm sõng soài ra đó. Tuy thế, cặp mắt của vị anh hùng vẫn hướng về trời cao, dâng lên Thiên Chúa hy tế đời mình và dâng lời cảm tạ sốt sắng qua 32 năm đã được phúc làm chứng cho Thiên Chúa ở Việt Nam. Lý hình vung gươm xử chém đang lúc chứng nhân còn chìm sâu trong ý nguyện.
Đầu vị tử đạo phải bêu ba ngày trước khi bị ném xuống sông. Các giáo hữu đem áo quan theo sẵn, đút tiền để đưa thi hài ngài về án táng tại chủng viện Lục Thủy. Hiện hài cốt ngài còn để tại nhà thờ Phú Nhai.
Ngày 27.05.1900, Đức Lêo XIII suy tôn cha Giuse Fernandez Hiền, dòng Đaminh, lên bậc Chân Phước. Ngày 19-06-1988, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh.

Chúa Nhật XVII Thường Niên Năm C

Lời Chúa: Anh em cứ xin thì sẽ được.
      Một hôm, Đức Giê-su cầu nguyện ở một nơi kia. Người cầu nguyện xong, thì có một người trong nhóm môn đệ nói với Người: "Thưa Thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện, cũng như ông Gio-an đã dạy môn đệ của ông". Người bảo các ông: "Khi cầu nguyện, anh em hãy nói:
"Lạy Cha, xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển, Triều Đại Cha mau đến, xin Cha cho chúng con ngày nào có lương thực ngày ấy; xin tha tội cho chúng con, vì chính chúng con cũng tha cho mọi người mắc lỗi với chúng con, và xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ."
     Người còn nói với các ông: "Ai trong anh em có một người bạn, và nửa đêm đến nhà người bạn ấy mà nói: "Bạn ơi, cho tôi vay ba cái bánh, vì tôi có anh bạn lỡ đường ghé lại nhà, và tôi không có gì dọn cho anh ta ăn cả"; mà người kia từ trong nhà lại đáp: "Xin anh đừng quấy rầy tôi: cửa đã đóng rồi, các cháu lại ngủ cùng giường với tôi, tôi không thể dậy lấy bánh cho anh được". Thầy nói cho anh em biết: dẫu người kia không dậy để cho người này vì tình bạn, thì cũng sẽ dậy để cho người này tất cả những gì anh cần, vì thể diện.

     Thế nên Thầy bảo anh em: anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho. Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở cho. Ai trong anh em là một người cha, mà khi con xin cá, lại lấy rắn thay vì cá mà cho nó? Hoặc nó xin trứng, mà lại cho nó con bọ cạp? Vậy nếu anh em là những kẻ xấu, mà còn biết cho con cái mình những của tốt lành, phương chi Cha trên trời, Người sẽ ban Thánh Thần cho những kẻ kêu xin Người sao?”

SUY NIỆM & CẦU NGUYỆN
      Bài Tin Mừng hôm nay cho chúng ta hiểu cách cầu nguyện với Chúa, trong tương quan Thiên Chúa là Cha và chúng ta là những người con của Ngài. Nhờ Chúa Giêsu và tác động của Chúa Thánh Thần, mỗi người Kitô hữu có thể kêu Thiên Chúa là Abba, nghĩa là Cha ơi. Tiếng xưng hô Cha ơi, thật đẹp làm sao, những lời thân thưa trong kinh Lạy Cha lại càng ý nghĩa và thân tình biết mấy. Vì thế, lời nguyện đầu tiên của Người Con là xin cho danh Cha cả sáng, xin mọi người đều tin nhận và suy phục Cha mình.
    Trong đời sống đạo, chúng ta đặt niềm tin tưởng vào Thiên Chúa là Đấng quyền năng siêu việt. Người ban phát ân sủng cho mọi loài thọ tạo. Thế nên, chúng ta rất quen thuộc với những từ ngữ như sau: cầu nguyện, cầu xin, cầu bầu, xin ơn phù trợ và nâng đỡ chở che. Trong tâm tình khiêm hạ và nhận biết thân phận yếu hèn, chúng ta cùng nhau cúi đầu thờ lạy và vâng phục Đấng Tạo Hóa chí công. Chúng ta nên thành tâm cầu xin những ơn cần thiết cho đời sống và phần rỗi linh hồn của chúng ta, cầu nguyện là chúng ta nối nhịp cầu tới Thiên Chúa bằng những lời nguyện xin. Chúa Giêsu đã dạy chúng ta cầu nguyện và luôn nhắc nhở: “Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho.”
    Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, xin ban cho chúng con biết năng chạy đến với Chúa như con thơ bên cạnh mẹ hiền. Để được Chúa yêu thương, ban ơn và tha thứ cho những thiếu xót của chúng con.  Amen

Ngày 24/07 –  Thánh Sharbel Makhlouf, Linh mục (1828-1898)
     Giuse Zaroun Maklouf sinh tại làng Beka-Kafra, Lebanon, được người thúc bá nuôi vì ngài mồ côi cha mẹ từ lúc 3 tuổi. Lúc 23 tuổi, ngài vào tu viện thánh Maron ở Annaya, Lebanon, và lấy tên là Sharbel – vị tử đạo hồi thế kỷ II. Ngài khấn trọn năm 1853 và thụ phong linh mục 6 năm sau.
     Noi gương thánh Maron (thế kỷ V), ngài sống ẩn tu từ năm 1875 cho đến chết. Gương thánh thiện của ngài làm cho nhiều người đến xin phúc lành và xin cầu nguyện. Ngài ăn chay nghiêm nhặt và rất sùng kính Thánh Thể. Thi thoảng bề trên sai ngài đi ban các bí tích cho các làng lân cận, ngài vui vẻ vâng lời.
     Ngài qua đời vào chiều tối ngày 24-12-1898. Mộ ngài được cả người giáo lẫn người lương đến cầu nguyện và xin ơn chữa lành. Ngài được CP GH Phaolô VI phong chân phước năm 1965, và được phong thánh năm 1977.

Thứ Năm, 21 tháng 7, 2016

Thứ Bảy Tuần 16 Thường Niên Mt 13,24-30.

Lời Chúa: Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt.
Ha-lê-lui-a. Hãy khiêm tốn đón nhận Lời đã được gieo vào lòng anh em; Lời ấy có sức cứu độ linh hồn anh em. Ha-lê-lui-a.
Một ngày tại khuôn viên thánh điện
quý hơn cả ngàn ngày.
Thà con ở cổng đền Thiên chúa

vẫn còn hơn sống trong trại ác nhân.

Ngày 23/07 –  Thánh Brighita (1303?-1373)
     Từ lúc 7 tuổi, Brighita được thị kiến Đức Kitô bị đóng đinh. Thị kiến đó đã làm nền tảng cho các hoạt động của bà – luôn chú trọng bác ái hơn là ủng hộ tinh thần.
     Bà là hoàng hậu của vua Magnus II, vua Thụy Điển. Bà là mẹ của 8 người con (con thứ hai của bà là thánh Catarina Thụy Điển). Sau khi chồng mất, bà sống ăn chay hãm mình nghiêm nhặt. Bà luôn cố gắng tạo ảnh hưởng tốt đối với vua Magnus, chính nhà vua đã cho bà đất đai và nhà cửa để thành lập các tu viện nam và nữ. Các nhóm tu trì này phát triển thành Dòng Thánh Brighita (Bridgetines) mà ngày nay vẫn còn.
     Năm Thánh 1350, bà khuyến khích người Âu châu đi hành hương Rôma. Những năm bà sống ở Rôma không thoải mái, bị nợ nần và bị chống đối vì bà phản đối việc lạm dụng của Giáo hội. Đoàn hành hương cuối cùng đến Thánh Địa, bị đắm tàu và con trai bà là Charles chết, cuối cùng bà mất năm 1373. Năm 1999, bà cùng với thánh Catarina Siena và thánh Edith Stein được tôn vinh là các thánh bổn mạng của Âu châu.

Thứ Tư, 20 tháng 7, 2016

Thứ Sáu Thánh Nữ Maria Mađalêna Lễ nhớ Ga 20,1-2.11-18.

Lời Chúa: Này bà, sao bà khóc ? bà tìm ai ?.
Ha-lê-lui-a. Maria hỡi, in kể lại, trên đường đi đã thấy gì cô ? Thấy mồ trống Đức Ki-tô phục sinh vinh hiển thiên thu khải hoàn. Ha-lê-lui-a.
Lạy Thiên Chúa, Ngài là Chúa con thờ,
ngay từ rạng đông con tìm kiếm chúa.
Linh hồn con đã khát khao Ngày,
tấm thân này mòn mỏi đợi trông,

như mảnh đất hoang khô cằn, không giọt nước.

Ngày 22/07 –  Thánh Maria Mađalêna
     Ngoài Đức Maria, chỉ vài phụ nữ được tôn kính trong Kinh thánh nhiều hơn Maria Magđalêna. Bà có thể là bổn mạng của những người bị vu khống, vì có một truyền thuyết lâu đời trong Giáo hội nói rằng bà là người phụ nữ tội lỗi vô danh đã xức dầu chân Chúa Giêsu được thuật lại trong Lc 7:36-50.
     Đa số các học giả Kinh thánh ngày nay đều chứng tỏ rằng không có nền tảng Kinh thánh nào để lẫn lộn hai phụ nữ này. Maria Magđalêna, nghĩa là Maria ở Magđalêna, là người mà Chúa Giêsu đã đuổi “bảy quỷ” (Lc 8:2).
     LM W.J. Harrington, Dòng Đa Minh, viết trong cuốn “Chú giải Công giáo mới” (New Catholic Commentary): “Bị bảy quỷ ám không có nghĩa là thánh Maria Mađalêna đã sống cuộc đời vô luân, một kết luận chỉ đạt được bằng cách lầm lẫn với phụ nữ vô danh trong Lc 7:36”. LM Edward Mally, Dòng Tên, viết trong cuốn “Chú giải Kinh thánh của Thánh Giêrônimô” (Jerome Biblical Commentary): “Bà (Maria Mađalêna) không là phụ nữ tội lỗi trong Lc 7:37, mặc dù có truyền thống lãng mạn Tây phương nói về bà”.
     Maria Mađalêna là một trong những người “giúp Chúa Giêsu và Nhóm Mười Hai”. Bà là một trong những người đứng bên Thánh giá với Đức Mẹ.

Thứ Ba, 19 tháng 7, 2016

Thứ Năm Tuần 16 Thường Niên Mt 13,10-17.

Lời Chúa: Anh em được ơn hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời, còn họ thì không.
Ha-lê-lui-a. Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã mạc khải mầu nhiệm Nước Trời cho những người bé mọn. Ha-lê-lui-a.
Lạy Chúa, tình thương Ngài cao ngất trời xanh,
lòng thành tín vượt ngàn mây biết.
Công lý của Ngài như đỉnh núi thái sơn,
quyết định của Ngài tựa vực sâu thẳm.
Lạy Chúa, Ngài quả thật là nguồn sống.

Ngày 21/07 –  Thánh Lawrence Brindisi, Linh mục Tiến sĩ (1559-1619)
     Thánh Lawrence Brindisi có thiên tài về ngôn ngữ. Ngoài ngôn ngữ bản xứ là tiếng Ý, ngài còn nói và đọc được tiếng Latin, Hebrew, Hy Lạp, Đức, Bohemian, Pháp và Tây Ban Nha.
     Ngài sinh ngày 22-07-1559. Cha mẹ ngài là ông William và bà Elizabeth Russo đặt tên cho ngài theo tên của Julius Caesar, Caesare theo tiếng Ý. Cha mẹ ngài mất sớm, ngài được người thúc bá cho theo học ở ĐH Thánh Maccô ở Venice. Lúc 16 tuổi, ngài vào Dòng Phanxicô ở Venice và lấy tên dòng là Lawrence. Ngài hoàn tất chương trình triết học và thần học tại ĐH Padua và thụ phong linh mục lúc 23 tuổi.
     Với khả năng xuất sắc về ngôn ngữ, ngài học Kinh thánh bằng văn bản gốc. Theo yêu cầu của ĐGH Clêmentô VIII, ngài dành nhiều thời gian giảng đạo cho người Do Thái ở Ý. Kiến thức về tiếng Hebrew của ngài rất xuất sắc đến nỗi các luật sĩ Do Thái cứ tưởng ngài là người Do Thái trở lại Kitô giáo. Năm 1956, các tu sĩ Phanxicô xuất bản bộ sách 15 cuốn của ngài. 11 cuốn trong 15 cuốn gồm các bài giảng của ngài, mỗi cuốn chủ yếu trích dẫn Kinh thánh để minh chứng những lời ngài giảng.
     Ngài rất nhạy cảm với nhu cầu của người khác – một tính chất có thể gây bất ngờ ở các học giả biệt tài như vậy. Ngài được bầu làm giám tỉnh Dòng Phanxicô ở Tuscany khi ngài mới 31 tuổi. Ngài vừa thông minh, vừa thương người và vừa có tài quản lý để làm nhiệm vụ. Năm 1602, ngài được bầu làm bề trên tổng quyền Dòng Phanxicô. Ở cương vị này, ngài có trách nhiệm làm phát triển và mở rộng địa lý của dòng.
     Ngài được bổ nhiệm làm Phái viên Tòa thánh (papal emissary) và Sứ giả Hòa bình (peacemaker), một nhiệm vụ khiến ngài phải đi nhiều nước. Cố gắng đạt được hòa bình ở Naples khiến ngài phải đi Lisbon tiếp kiến vua Tây Ban Nha. Tại Lisbon, ngài bị bệnh nặng và qua đời đúng ngày sinh nhật thứ 60 của ngài năm 1619.

Thứ Hai, 18 tháng 7, 2016

Ngày 20/07/1818 – 1857 Giám Mục Dòng Đaminh Thánh Giuse Diaz Sanjurjo An Tử Đạo

Qua những lời lẽ được trích từ lá thư viết trong tù của thánh Giám Mục Giuse An, chúng ta có thể hiểu được phần nào tâm hồn của ngài. Với mẫu thân và mảnh giấy xé trong sách, ngài đã nắn nót từng chữ viết lên lời tuyên xưng niềm tin, bày tỏ ước nguyện dâng hiến đời mình hòa với hy tế của Đức Kitô và biểu lộ lòng xác tín vào Quê Trời vĩnh cửu, nơi ngài mong tái ngộ với mọi người thân yêu : "Tù nhân trong chúa gởi lời tạm biệt Đức Cha và các cha cho tới ngày gặp nhau trên trời. xin tất cả anh em tha thứ cho những điều lầm lỗi và gương xấu tôi đã làm ... Gông xiềng tôi đang mang được coi là những báu vật Chúa Giêsu gởi cho tôi. tôi vui mừng lắm vì chỉ ước ao đổ máu vì Chúa, để máu tôi hòa với Máu Cực Thánh Chúa Giêsu rửa linh hồn tôi được sạch mọi tội lỗi. xin anh em cầu nguyện cho tôi vững đến cùng...

Viết tại ngục Nam Định, ngày 28.05.1857, Fray José Maria".

* Ước vọng và nỗ lực.
Giuse Diaz Sanjurjo chào đời ngày 26.10.1818 tại Santa Eultia de Suegos, tỉnh Lugo nước Tây Ban Nha. Là con cả của gia đình năm anh em, trong đó người em gái là nữ tu Antonia. Lớn lên cậu theo học tại chủng viện Lugo. Vì nội chiến, cậu bị gián đoạn ba năm học phải trở về quê. Sau đó vào đại học Compostella. Trong giai đoạn này, Giuse Sanjurjo được biết và cảm mến sinh hoạt truyền giáo của dòng Đaminh Tại Viễn Đông. Vào dịp thuận tiện, cậu giã từ cha mẹ bạn bè và xin vào tu viện Santo Domingo Ocana của tỉnh dòng Đaminh Rất Thánh Mân Côi, đặc trách truyền giáo ở Viễn Đông.
Ngày 23.09.1842 cùng với bảy chủng sinh khác, cậu được lãnh tu dòng Thuyết Giáo. Năm sau ngày 24.09.1843, thầy Sanjurjo khấn dòng trong tay bề trên Orge. Vì đời sống đạo đức, nhiều khả năng và ước vọng loan báo Tin Mừng của thầy đã được khẳng định ngay từ khi thầy đến Ocana, nên sau đó nửa năm, thầy được gởi tới Cadiz chuẩn bị đến miền truyền giáo. Tại Cadiz, thầy thụ phong linh mục ngày 23.03.1844, và cùng với năm tu sĩ bạn đến Manila (Phi luật Tân) ngày 14.09 năm đó. Sáu tháng sau, vị linh mục trẻ tuổi lại lên đường qua Macao, rồi từ đó đến giáo phận Đông Đàng Ngoài ngày 12.09.1845 với tên Việt Nam: là An. Sau thời gian học tiếng Việt, cha được đề cử coi sóc chủng viện tại Nam Am.
Cuộc bách hại năm 1848 của vua Tự Đức đã gây thiệt hại nặng nề cho chủng viện. Cha An và cha Alcazar Hy phải gấp rút giải tán chủng sinh, cho chôn giấu các đồ thờ phượng, và đau buồn nhìn chủng viện bị tàn phá. Trong thư gởi cho bạn ở quê nhà, cha viết : "Chúng tôi chẳng còn nhà, chẳng còn sách vở quần áo, chẳng còn gì nữa… nhưng chúng tôi vẫn an tâm vì nhớ lời Thầy Chí Thánh : con người không có chỗ gối đầu…"
Sau đó cha An phải lánh nạn đến Ngọc Cục qua Ninh Cường vài tuần, rồi sang miền Cao Xá. Vì nhiệt tâm với tương lai của giáo phận, cha mở lại chủng viện cho các chủng sinh cũ ngay tại Cao Xá. Thời gian này cha biên soạn cuốn Văn phạm Latinh bằng tiếng Việt.
* Vị giám mục phó hăng say.
Năm 1848, vì số giáo hữu trong giáo phận gia tăng, Đức cha Hermosilla Liêm xin Tòa Thánh chia khu vực dòng Đaminh thành hai giáo phận. Qua văn thư ngày 05.09, Đức Piô IX thiết lập giáo phận Trung tách địa khỏi phận Đông Đàng Ngoài. Giáo phận Trung gồm hai giáo phận hiện nay là Bùi Chu, Thái Bình với khoảng 140.000 giáo hữu và 624 xứ.
Linh mục Marti Gia khi nghe tin được chọn làm Giám mục giáo phận mới thì tỏ ra lo lắng và đến hỏi ý kiến cha Sanjurjo An đang ở Trung Lễ. Trong bầu không khí trao đổi thân mật, cha An phân tích các mặt của nhiệm vụ Giám mục với những khó khăn trong thời cấm đạo. Rồi cha đề cập đến các nhu cầu của cộng đoàn dân Chúa, đến vai trò của các phẩm trật. Sau cùng cha đã thuyết phục thành công cha Marti Gia lãnh nhận vinh dự, cũng là gánh nặng chủ chăn giáo phận mới.
Nhưng một điều cha An không ngờ : trong sắc lệnh bổ nhiệm Đức cha Marti Gia, tòa thánh đã cho vị tân Giám mục quyền chọn vị Giám mục phó. Đức cha Gia liền chọn Giám mục phó là cha An, người đã thuyết phục mình nhận chức. Ngày 05.04.1849, cha Sanjurjo An được thụ phong giám mục hiệu tòa Platea cùng với cha Alcazar Hy, người được chọn làm Giám Mục phó cho Đức cha Hernosilla Liêm.
Sau đó, vị tân Giám mục lại trở về Cao xá tiếp tục coi sóc chủng viện. Trong thư gởi gia đình, Đức cha viết "Ở đây chức vụ cao chỉ thêm công việc, con thường phải đi bộ, có khi phải đi chân không, nhiều lần phải lội bùn đến đau gối, để trốn tránh những người tìm bắt".
Tháng 03.1850, Đức cha An trao chủng viện cho cha Sampedro Xuyên, rồi đi kinh lý toàn tỉnh Hưng Yên. Nhưng cuộc kinh lý phải bỏ dở vì quan quân truy lùng quá gắt gao. Hai linh mục Việt Nam cùng đi với cha bị bắt. Trở về Cao Xá, Đức cha bị sốt rét nặng một thời gian.

* Vị mục tử tận tình.
Năm 1852, Đức cha Marti Gia lâm bệnh nặng phải rời bỏ xứ truyền giáo và qua đời ngày 26.4 tại Hương Cảng trong sự luyến tiếc của các giáo hữu Việt Nam. Kể từ đó, Đức cha An phải gánh vác toàn Giáo phận Trung. Ngài về tòa Giám mục ở Bùi Chu và trực tiếp điều hành việc truyền giáo. Số tân tòng gia tăng mau lẹ. Số rửa tội năm 1852 của giáo phận ghi thêm tên của 28.355 người. Đức cha viết : "Đó quả là phần thưởng đầy khích lệ các nhà truyền giáo tiếp tục những trách vụ tông đồ, bất chấp mọi âm mưu của thần dữ, không nản lòng trước những cơ cực thiếu thốn, trước nguy hiểm vây quanh và những nghịch cảnh có thể xẩy đến…".
Năm 1854, Đức cha Sanjurjo An mở lệ trọng thể kính thánh tổ phụ Đaminh tại Lục Thủy, có đông đủ các cha dòng, cha triều, các chủng sinh, nữ tu và trên 20.000 giáo hữu khắp nơi về tham dự. Sau lễ, Đức cha họp hội đồng giáo phận để thảo luận về nhiều vấn đề có ích lợi chung. Ngài còn tổ chức thi kinh thánh giữa các giáo xứ và các buổi tranh luận về tôn giáo. Có lần ngài viết một số vấn nạn về giáo lý bằng chữ hán phát cho các thầy Nho. Đến ngày hẹn, khoảng 30 thầy, đa số ngoài công giáo đến dự họp. Đức cha khai mạc và nói vài lời gợi ý, sau đó để các thầy tự do phát biểu. Mọi thắc mắc đều được Đức cha giải đáp thỏa đáng, khiến các thầy và dân chúng trong huyện đó phải khâm phục.
Năm 1855, ba cha dòng mới từ Macao tới Việt Nam đem theo sắc lệnh đặt Đức cha An làm Giám mục đại diện Tông tòa giáo phận Trung, và trao quyền chọn phụ tá. Đức cha đã chọn cha Sampedro Xuyên và tổ chức lễ tân phong giám mục ngày 19.09 tại thánh đường Bùi Chu, với sự tham dự của 49 linh mục và đông đảo giáo dân, đến nỗi khu vực Bùi Chu không đủ nhà để trọ. Số trẻ ngoại đạo được rửa tội trong năm này là 35.349 em.
* Giông tố bách hại.
Từ năm 1854, tại miền Bắc có giặc Châu Chấu của Lê Duy Cự và Cao Bá Quát. Nhóm này hứa hẹn và cổ động giới công giáo tham gia nổi loạn, nhưng rất ít người theo vì Đức cha đã lên tiếng cấm chống lại chính quyền. Nhờ đó, các quan địa phương nới tay trong việc thi hành sắc lệnh của nhà vua. Tổng đốc Nguyễn Đình Tân biết rất chính xác trụ sở Tòa Giám mục, nhưng không muốn bắt, ông còn hứa hẹn nếu bất đắc dĩ phải đem quân truy nã thì ông sẽ cho báo trước.
Tháng 05.1857, đúng lúc có viên quan Thượng thư từ kinh đô ra Nam Định, thì Chánh Mẹo ở làng Thoại Miêu lên tỉnh tố cáo rằng : "Có đạo trưởng Tây tên An ở Bùi Chu". Vì có quan trên, quan Tổng đốc buộc lòng phải ra lệnh truy bắt, nhưng cũng báo cho Đức cha, tiếc rằng tin đến nơi thì Đức cha đã bị bắt. Khi quân lính đến bao vây, Đức cha luống cuống chạy ẩn đến bốn chỗ và cuối cùng, ngài ngồi giữa một bụi tre khá kín đáo. Nhưng đúng lúc ngài ló đầu ra xem lính đi chưa, thì bị phát hiện và bị bắt. Quân lính tước đoạt Thánh Giá và nhẫn Giám mục, sau đó trói ngài dẫn đi. Rồi họ kéo nhau vào nhà chung để cướp của và thiêu hủy những gì họ không đem đi được.
Sau một đêm bị giam tại phủ Xuân Trường, vị anh hùng đức tin được quan quân giải về Nam Định. Tại đây, Tổng đốc Nguyễn Đình Tân tỏ ra tiếc khi thấy Đức cha bị bắt, nhưng vì sợ quan Thượng Thư nên phải xử với ngài như tù phạm. Đức cha bị biệt giam hai tháng, chỉ còn ba lần một linh mục giáo phận vào ban bí tích, và một lần người của Đức cha Retord Liêu vào thăm. Tuy bị xiềng xích gông cùm, Đức cha An luôn bình tĩnh vui vẻ đón chờ phúc tử đạo. Nhiều lần quan bắt ngài đạp lên Thánh Giá nhưng ngài cương quyết từ chối.

* Nhát gươm di chúc.
Ngày 20.07.1857, có án tử hình từ kinh đô ra, truyền chém đầu "Tây dương đạo trưởng tên An". Trên đường ra pháp trường Nam Định, Đức cha An, tay cầm sách nguyện, vừa đi vừa suy niệm, vẻ mặt bình thản. Đến nơi xử, quân lính vây quanh ngài ba vòng : vòng trong cầm gươm, vòng giữa cầm giáo, vòng ngoài cầm cờ, cưỡi ngựa, cưỡi voi. Đức cha An xin hoãn một lát, rồi lớn tiếng nói đôi lời với những người có mặt, sau đó nói với viên chỉ huy : "Tôi xin gởi quan 30 đồng tiền để xin một ân huệ : xin đừng chém tôi một nhát, nhưng là ba nhát. Nhát thứ nhất tôi tạ ơn Chúa đã dựng nên tôi, và đưa tôi đến đất Việt giảng đạo. Nhát thứ hai để nhớ ơn cha mẹ sinh thành ra tôi, còn nhát thứ ba như lời di chúc cho các bổn đạo của tôi, để họ bền chí chết cho đức tin, theo gương vị chủ chăn của mình. Và như thế họ đáng lãnh phần hạnh phúc cùng các thánh trên trời".
Đức cha vừa dứt lời, quân lính trói ngài vào cây cọc hình Thập Giá. Dân chúng òa lên khóc. Lý hình chém Đức cha ba nhát như ngài xin. Đầu và mình của vị tử đạo bị liệng xuống sông. Có hai người lính thấm máu vị tử đạo liền bị tống giam. Đồ đạc, sách vở của Đức cha đều bị đốt. Chén lễ, áo lễ thì trao cho đoàn văn nghệ sĩ sử dụng. Đến sau dân chài lưới đã vớt được thủ cấp vị tử đạo. Đức cha Xuyên an táng thủ cấp này tại Bùi Chu, một thời gian sau, tu viện Santo Domingo ở Ocana xin rước cốt của Đức cha An về tôn kính từ năm 1891, vì Đức cha là vị tử đạo tiên khởi của tu viện.
Ngày 29.04.1951, Đức Piô XII suy tôn Đức cha Giuse Diaz Sanjurjo An lên bậc Chân Phước. Ngày 19-06-1988, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh.

Thứ Tư Tuần 16 Thường Niên Mt 13,1-9.

Lời Chúa:  Hạt được gấp trăm.
Ha-lê-lui-a. Hạt giống là lời Thiên Chúa, người gieo giống là Đức Ki-tô. Ai tuân giữ lời Người, sẽ muôn đời tồn tại. Ha-lê-lui-a.
Miệng con công bố Ngài chánh trực,
suốt ngày tường thuật ơn cứu độ Ngài ban.
Từ độ thanh xuân, lạy Thiên chúa,
con đã được Ngài thương dạy dỗ.

Tới ngày này, con dẫn truyền rao vĩ nghiệp của Ngài.

Ngày 20/07 –  Thánh Apollinaris, Giám mục Tử đạo (thế kỷ I)
     Theo truyền thống, thánh Phêrô gởi Apollinaris tới Ravenna, Ý, trong cương vị giám mục tiên khởi. Ngài rất thành công trong việc rao truyền Tin Mừng đến nỗi dân ngoại ở đó đánh đập ngài và lôi ngài ra khỏi thành phố. Tuy nhiên, ngài vẫn quay lại, và ngài lại bị trục xuất lần nữa. Sau khi giảng đạo ở quanh vùng Ravenna, ngài lại vào thành phố. Sau khi bị hành hạ dã man, ngài bị đưa lên tàu chơ tới Hy Lạp. Dân ngoại ở đó lại khiến ngài bị trục xuất sang Ý, từ đây ngài lại đi Ravenna lần thứ tư. Ngài qua đời vì bị thương do bị đánh đập ở Classis, ngoại ô Ravenna. Một đại giáo đường được xây dựng dâng kính ngài ở đó từ thế kỷ VI.