Thứ Sáu, 12 tháng 2, 2016

Ngày 13/02-1830-1859 Thánh Phaolô Lê Văn Lộc Linh mục Tử đạo

Phaolô Lê Văn Lộc, Sinh năm 1830 tại An Nhơn, Gia Ðịnh, Linh mục, bị xử trảm ngày 13/02/1859 tại Gia Ðịnh dưới đời vua Tự Ðức. Đức Piô X suy tôn chân phước cho cha Phaolô Lê Văn Lộc ngày 02-05-1909. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh. Lễ kính vào ngày 13/02.

Thánh Phaolô Lê Văn Lộc Linh mục Tử đạo
* Nỗi đau thương.
Phải giải tán chủng viện Thị Nghè. Đó là một quyết định đau lòng đối với cha giám đốc Lê Văn Lộc. nhưng biết làm sao hơn được ? Tình hình giáo hội hết sức khó khăn. Quan quân đang truy bắt những người theo đạo chúa. Hai năm coi sóc tiểu chủng viện, thời gian tuy ngắn ngủi, nhưng ý thức trách nhiệm của cha Lộc đối với Giáo Hộ thật lớn, và tình thương của cha đối với các chủng sinh thật thắm thiết. Cha không đành bỏ rơi những người con thân yêu này.
Trong tình thế khó khăn đó, để cứu lấy mạng sống mình chủng viện phải giải tán nhưng việc huấn luyện vẫn không ngừng. Cha Phaolô Lộc tìm cách trốn tránh quang vùng Sài Gòn, Gia Định, khi thì ở với các chủng sinh, khi ở một mình, nhưng vẫn tìm cách tiếp tục công việc huấn luyện các mầm non của Giáo Hội. Chính sứ mạng cao quý này đã đưa cha đến phúc tử đạo, một vinh hạnh lớn cho chủng viện Thị Nghè (Sài gòn).
* Ngược dòng thời gian.
Phaolô Lê văn Lộc sinh năm 1830 tại làng An Nhơn, tỉnh Gia Định, trong một gia đình đạo đức. Mồ côi cha mẹ từ năm 10 tuổi, cậu Lộc được cha sở nhận nuôi và cho theo học tại chủng viện Cái Nhum trong hai năm. Năm 1843, Đức Cha Lefèbvre Nghĩa gởi cậu sang học thần học tại Pénang. Cậu được các giáo sư viết thư về giám mục giáo phận khen là người tương lai đầy hứa hẹn.
Trở về nước, thầy Phaolô Lộc tận tâm giảng dạy giáo lý và phụ trách việc huấn luyện cho các chủng sinh. Ngày 07-02-1857, thầy được Đức Cha Nghĩa truyền chức linh mục và được bổ nhiệm giám đốc tiểu chủng viện Thị Nghè. Ngoài việc chăm sóc giảng dạy các chủng sinh, cha lộc vẫn cố gắng thu xếp những giờ làm công tác mục vụ, bác ái. Có sử liệu ghi nhận trong khoảng một năm, cha đã dẫn về đoàn chiên Giáo Hội hơn 200 tân tòng.
Trong tình thế khó khăn dưới thời vua Tự Đức như thế, nhiều quan chức ác cảm với đạo, nhưng cha Lộc vẫn hăng say làm việc, duy trì chủng viện hơn một năm. Tháng 07-1858, mười bốn chiếc thuyền Pháp đổ bộ lên cửa Hàn tỏ dấu khiêu khích. Đô đốc Rigault de Genouilly ngây ngô chờ quân Công Giáo trợ lực. Ông không biết rằng người Công Giáo Việt Nam lúc đó không ưa gì ngoại xâm, như chúng ta thấy trong chuyện thánh Phanxicô Trung, họ không bỏ Chúa nhưng cũng kgông phò Tây. Họ tích cực xin đăng ký vào quân đội triều đình để chống Pháp. Thế mà, các quan chức Việt Nam tức giận cho rằng các tín hữu Kitô cấu kết với người Pháp, nên quyết định bắt giết các đạo trưởng trước khi quân xâm lược đến. Thế là chủng viện Thị Nghè phải giải tán, cha ngậm ngùi chia tay. Tuy nhiên cha Lộc vẫn cố nán lại Sài Gòn nay đây mai đó để gần gũi hướng dẫn các chủng sinh của mình.
* Trên con đường khổ giá.
Cuối năm 1858, cha Lộc đến tạm trú ở nhà một cựu chủng sinh (thầy giáo Ngôn). Dầu khó khăn nguy hiểm cha tìm cách tiếp tế cho các chủng sinh bị lưu lạc. Việc đó đưa cha vào vòng lao lý : một phụ nữ ngoại giáo thấy cha liền báo cáo với quan quân bao vây lục xét và bắt được cha ngày 13-12- năm đó.
Khi bị bắt, cha Lộc khéo léo trả lời, nên quan quân đối xử với cha một cách tử tế, còn có ý định tha nếu cha chối đạo. Đầu năm 1859, thấy không thể chiếm được Huế, thêm vào đó 200 lính viễn chinh Pháp chết vì bệnh dịch tả, tướng Pháp quyết định chuyển hướng đưa quân vào chiếm tỉnh Gia Định theo lối cửa Cần Giờ. Khi quân Pháp bắn phá Sài Gòn, các quan liền cấp tốc tâu vua cho trảm quyết cha Phaolô Lê Văn Lộc.

* Đến vinh quang.
Ngày 13-02-1859, cha Lộc bị điệu ra Trường Thi, bây giờ là góc đường Hai Bà Trưng – Xô Viết Nghệ Tĩnh và bị hành quyết ở đó.
29 tuổi đời, hai năm linh mục, bản án vội vã gấp rút, cũng như chính cuộc đời của cha đã kết thúc thật ngắn ngủi. Ngắn ngủi nhưng thiết tha, ngắn ngủi nhưng hết sức đậm đà tình yêu và trách nhiệm. Cuộc đời vắn vỏi nhưng đã được thánh hiến bằng chính máu đào của mình. Thật xứng đáng để được đón nhận vào nơi trừơng sinh. Cha Phaolô Lộc bước vào cuộc sống vĩnh cửu là thế.
Phải chờ đến đêm giáo hữu mới lên đưa thi hài vị tử đạo (vẫn bị trói ở cột) về mai táng ở họ Chợ Quán, sau được cải táng về dòng thánh Phaolô, Sài Gòn. Hiện nay hài cốt của thánh nhân được lưu trữ tại Vương Cung Thánh Đường Sài Gòn.
Đức Piô X suy tôn chân phước cho cha Phaolô Lê Văn Lộc ngày 02-05-1909. Ngày 19-06-1988, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh.

Thứ Bảy sau Lễ Tro Lc 9,22-25.

Lời Chúa: Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn.
TUNG HÔ TIN MỪNG: Ta chẳng vui gì khi kẻ gian ác phải chết, nhưng vui khi nó thay đổi đường lối để được sống.
Lạy Chúa, Ngài nhân hậu khoan hồng,
giàu tình thương với mọi kẻ kêu xin,
lạy Chúa, xin lắng nghe lời con cầu khẩn,

tiếng con vang nài, xin để ý lưu tâm.

Ngày 13/02 – Thánh Giles Maria Giuse (1729-1812)
Năm hoàng đế Napoleon Bonaparte đưa quân sang Nga, Maria Giuse nhập dòng Phanxicô ở thành Naples, Ý.
Giles Francesco sinh ngày 16-12-1729 tại Taranto, Apulia, Ý, trong một gia đình nghèo, mồ côi cha lúc bà 18 tuổi nên Giles phải lo cho gia đình. Giles nhập dòng Anh Em Hèn Mọn (Friars Minor) tại Galatone năm 1754. Suốt 53 năm phục vụ tại Nhà tế bần thánh Paschal ở Naples với nhiều công việc như nấu ăn, khuân vác và thường xuyên nhất là hành khất cho cộng đoàn.
“Hãy yêu mến Chúa” là đặc điểm của Giles nói với mọi người khi đi xin thức ăn về cho các tu sĩ và chia sẻ lòng đại lượng với người nghèo – an ủi người gặp khó khăn và thúc giục mọi người sám hối. Lòng bác ái của thánh nhân thể hiện trên các đường phố ở Naples được sinh ra từ lời cầu nguyện và nuôi dưỡng đời sống cộng đồng của các tu sĩ. Những người mà Giles gặp trên đường gọi ngài là “Người an ủi thành Naples”. Ngài qua đời ngày 7-2-1812 tại Naples, được ĐGH Leo XIII phong chân phước năm 1888, và được ĐGH Gioan-Phaolô II phong hiển thánh năm 1996. Trong bài giảng lễ phong thánh, ĐGH Gioan-Phaolô II nói: “Hành trình tâm linh của thánh Giles phản ánh sự khiêm nhường của mầu nhiệm Nhập Thể và sự biếu không của Thánh Thể”.

Thứ Tư, 10 tháng 2, 2016

Thứ Sáu sau Lễ Tro Lc 9,22-25.

Lời Chúa: Khi chàng rể bị đem đi rồi, bấy giờ họ mới ăn chay.
Ha-lê-lui-a. Hãy tìm điều lành chứ đừng tìm điều dữ, rồi anh em sẽ được sống; và Chúa sẽ ở cùng anh em. Ha-lê-lui-a.
Lạy Thiên Chúa, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con,
mở lượng hải hà xóa tội con đã phạm.
Xin rửa con sạch hết lỗi lầm

tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy.

Ngày 12/02 – Thánh Apollonia, Tử đạo (qua đời năm 249)
Cuộc bách hại Kitô giáo bắt đầu thời Alexandria triều đại hoàng đế Philip. Nạn nhân đầu tiên là một phụ nữ lớn tuổi ngoại giáo tên là Metrius, bị hành hạ và bị ném đá đến chết. Nạn nhân thứ nhì là tên là Quinta, một Kitô hữu từ chối tôn thờ các ngẫu tượng, lời bà nói làm những người ngoại giáo tức điên lên, thế là bà bị đánh đập và ném đá.
Trong khi đa số các Kitô hữu trốn khỏi thành phố, bỏ lại tất cả tài sản, một nữ trợ tế bị bắt tên là Apollonia. Đám đông đánh đập bà, đá bà gãy cả răng. Họ đốt đống lửa và dọa ném bà vào nếu không chịu nguyền rủa Thiên Chúa. Bà xin họ chờ một lát, rồi bà hành động như thể bà đang cân nhắc yêu cầu của họ. Bà tự ý nhảy vào lửa chịu tử đạo.
Có nhiều nhà thờ và bàn thờ dâng kính thánh Apollonia. Bà được đặt làm bổn mạng các nha sĩ. Những người đau răng và những người bị các bệnh về răng thường cầu nguyện với bà. Bà được vẽ với tay cầm chiếc kìm nhổ răng hoặc với một chiếc răng vàng đeo ở cổ. Thánh Augustinô giải thích việc tử đạo tự nguyện của thánh Apollonia là một linh hứng đặc biệt của Chúa Thánh Thần, vì không ai được phép tự gây ra cái chết.

Thứ Ba, 9 tháng 2, 2016

Thứ Năm sau Lễ Tro Lc 9,22-25.

Lời Chúa: Ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy.
Ha-lê-lui-a. Chúa nói: Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần. Ha-lê-lui-a.
Phúc thay người chẳng nghe theo lời bọn ác nhân,
chẳng bước vào đường quân tội lỗi,
không nhập bọn với phường ngạo mạn kiêu căng,
nhưng vui thú với lề luật Chúa,

nhẩm đi nhẩm lại suốt đêm ngày.

Ngày 11/02 – Đức Mẹ Lộ Đức
Ngày 08-12-1854, ĐGH Piô IX công bố tín điều Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội (Dogma of the Immaculate Conception) trong tông huấn Ineffabilis Deus. Hơn ba năm sau, ngày 11-02-1858, một phụ nữ trẻ đã hiện ra với Bernadette Soubirous. Trong lần hiện ra ngày 25-03-1858, phụ nữ này đã xác định: “Tôi là Đấng Vô Nhiễm”.
Bernadette là một đứa trẻ ốm yếu, có cha mẹ nghèo, nhưng việc sống đức tin của họ luôn sốt sáng. Trong khi bị thẩm vấn, Bernadette đã nói những gì em thấy. Đó là “cái gì đó màu trắng có dáng một cô gái”. Bernadette đã dùng từ aquero, đặc ngữ địa phương nghĩa là “điều này”. Đó là “một phụ nữ khá trẻ có chuỗi Mân Côi trên tay”. Chiếc áo trắng có vòng xanh bao quanh, đầu đội khăn trùm trắng. Mỗi bàn chân có một bông hồng vàng. Bernadette cũng ấn tượng với sự thật là phụ nữ này không dùng cách nói bình dân với đại từ tu (Pháp ngữ), mà dùng cách nói trang trọng với đại từ vous (Pháp ngữ).
Trinh nữ khiêm nhường hiện ra với một cô gái khiêm nhường và đối xử đàng hoàng. Qua cô gái khiêm nhường đó, Mẹ Maria đã tái sinh và tiếp tục tái sinh đức tin của hằng triệu người khác. Người ta từ khắp nơi bắt đầu tuôn đến Lộ Đức. Năm 1862 Giáo hội xác nhận tính đích thực của việc hiện ra này và ban phép tôn kính Đức Mẹ Lộ Đức cấp giáo phận. Lễ Đức Mẹ Lộ Đức trở nên toàn cầu từ năm 1907.

Thứ Hai, 8 tháng 2, 2016

Thứ Tư Mồng Ba Tết Bính Thân Lễ Tro Mt 6,1-6.16-18.

Lời Chúa: Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh.
Ha-lê-lui-a. Ngày hôm nay, anh em chớ cứng lòng, nhưng hãy nghe tiếng Chúa. Ha-lê-lui-a.
Xin ban lại cho con niềm vui vì được Ngài cứu độ,
và lấy tinh thần quảng đại đỡ nâng con;
Lạy Chúa Trời, xin mở miệng con,

cho con cất tiếng ngợi khen Ngài.

Ngày 10/02 – Thánh Scôlastica, Trinh nữ (480-542?)
Những đứa con song sinh thường có điểm chung về mối quan tâm và tư tưởng với cường độ tương đương. Do đó, không lạ gì khi Scôlastica và em trai song sinh là Bênêđictô đều lập dòng, chỉ cách nhau vài dặm. Cùng sinh năm 480 trong một gia đình giàu có, Scôlastica và Bênêđictô cùng được nuôi dưỡng cho đến khi Bênêđictô đi Rôma để tiếp tục việc học. Người ta biết ít về cuộc đời hồi nhỏ của thánh Scôlastica. Bà lập dòng nữ gần Monte Cassino ở Plombariola, cách dòng của cậu em 5 dặm.
Hai chị em song sinh thăm nhau mỗi năm một lần ở một căn nhà nông trại vì Scôlastica không được phép vào tu viện nam. Họ dùng những lần gặp nhau để bàn luận về các vấn đề tâm linh. Theo cuốn Dialogues of St. Gregory the Great (Đối thoại của thánh Grêgôriô Cả), hai chị em dành ngày cuối cùng ở bên nhau để cầu nguyện và đàm đạo. Thánh Scôlastica cảm thấy mình sắp chết nên xin Bênêđictô ở lại với mình đến hôm sau. Thánh Bênêđictô từ chối vì ngài không muốn ở ngoài nhà dòng vào ban đêm, vì như vậy là vi phạm Tu Luật. Thánh Scôlastica xin Chúa cho sấm sét nổi lên để không cho Bênêđictô và các tu sĩ về nhà dòng. Bênêđictô kêu lớn: “Xin Chúa tha thứ cho chị. Chị làm gì vậy?”. Thánh Scôlastica trả lời: “Chị xin cậu mà cậu từ chối. Chị xin với Chúa và Ngài đã ban cho chị”.
Sáng hôm sau hai chị em chia tay sau thời gian đàm đạo dài. Ba ngày sau, thánh Bênêđictô đang cầu nguyện trong nhà dòng thì thấy linh hồn chị bay về trời trong hình chim bồ câu trắng. Thánh Bênêđictô thông báo tin chị mất cho các thầy, rồi sau đó an táng chị tại ngôi mộ mà thánh Bênêđictô đã chuẩn bị cho mình.

Thứ Ba Mồng Hai Tết Bính Thân Kính Nhớ Tổ Tiên Và Ông Bà Cha Mẹ.

Lời Chúa: Ngươi hãy thảo kính cha mẹ.
Ha-lê-lui-a. Hạnh phúc thay, người kính sợ Chúa, những ưa cùng thích mệnh lệnh Chúa truyền ban, Trên mặt đất, con cháu của họ sẽ hùng cường, dòng dõi kẻ ngay lành được Chúa thương giáng phúc. Ha-lê-lui-a.
Hạnh phúc thay bạn nào kính sợ Chúa,
Ăn ở theo đường lối của người.
Công khó tay bạn làm, bạn được an hưởng,

Bạn quả là lắm phúc nhiều may.

Ngày 09/02 – Thánh Giêrônimô Êmilianô, Linh mục (1481?-1537)
Thánh Giêrônimô Êmilianô sinh năm 1486, là con trai của một gia đình quý tộc thành Vêni, nước Ý. Giêrônimô là binh sĩ giỏi và được quyền chỉ huy một pháo đài cao trên tận miền sơn cước. Đang khi bảo vệ đồn bốt này cho khỏi đội quân của Maximilianô I xâm lược, Giêrônimô bị bắt làm tù binh và bị nhốt vào ngục tối. Bị xiềng xích trong chốn tù đày khốn khổ, Giêrônimô Êmilianô bắt đầu hối tiếc về quãng đời vô tư mà ngài đã sống. Giêrônimô hối hận là đã tưởng nghĩ quá ít về Thiên Chúa. Ngài ân hận vì nhiều năm qua đã sống trong tình trạng kém cỏi bệ rạc. Giêrônimô hứa với Đức Mẹ rằng nếu Đức Mẹ thương phù giúp thì sẽ thay đổi cuộc đời. Lời cầu nguyện của Giêrônimô được chấp nhận và ngài đã trốn thoát cách an toàn. Người ta nói rằng Giêrônimô Êmilianô, với tấm lòng biết ơn sâu xa, đã đi thẳng đến một ngôi nhà thờ. Ngài treo sợi dây xích đã giam hãm ngài trong tù trước bàn thờ Đức Mẹ.
Cuối cùng, chàng thanh niên trẻ tuổi này trở thành linh mục. Cha Giêrônimô Êmilianô đã hết lòng tận tụy với những công việc bác ái từ thiện. Điều quan tâm đặc biệt của Giêrônimô là chăm lo cho những trẻ em mồ côi vô gia cư sống lang thang trên các hè phố. Giêrônimô thuê một căn nhà cho chúng ở, cho chúng áo quần và thực phẩm. Ngài cũng hướng dẫn chúng bằng những chân lý đức tin.
Thánh Giêrônimô Êmilianô thiết lập một dòng tu gọi là hội Tôi Tớ Những Người Nghèo Khổ. Mục đích của dòng là tận tâm chăm sóc người nghèo, huấn luyện giới trẻ, đặc biệt các trẻ em mồ côi. Thánh Giêrônimô Êmilianô cũng ra sức giúp đỡ những người dân quê. Ngài làm việc với họ trên các cánh đồng. Thánh Giêrônimô chia sẻ cho họ nghe về sự tốt lành của Thiên Chúa khi làm việc bên họ. Năm 1537, thánh nhân qua đời đang khi chăm sóc cho những nạn nhân bệnh dịch. Đến năm 1767, Giêrônimô Êmilianô được đức thánh cha Bênêđictô XIV tôn phong lên bậc hiển thánh.
Thánh Giêrônimô Êmilianô là một tặng ân cho toàn thể Giáo hội và cách riêng cho những người sống ở thời đại của ngài. Nhìn lại toàn bộ đời sống của thánh nhân, chúng ta nhận thấy ngài thực là một hình ảnh sống động của Thiên Chúa yêu thương. Giêrônimô Êmilianô đem niềm hy vọng đến cho những người nghèo khổ và bị bỏ rơi. Năm 1928, đức thánh cha Piô XI đã đặt Giêrônimô Êmilianô làm thánh quan thầy của các trẻ em mồ côi vô gia cư.
Chúng ta hãy khẩn cầu thánh Giêrônimô Êmilianô giúp chúng ta ý thức tầm quan trọng trong việc trở nên một tấm gương tốt. Chúng ta hãy nài xin thánh nhân giúp chúng ta biết nhận ra những cơ hội mà chúng ta phải làm chứng cho tình yêu của Chúa Giêsu, Mẹ Maria và đức tin của Giáo hội Công giáo. 

Thứ Bảy, 6 tháng 2, 2016

Thứ Hai Mồng Một Tết Bính Thân Cầu Bình An cho Năm Mới.

Lời Chúa: Thầy ban cho anh em phúc bình an của chính Thầy.
Ha-lê-lui-a. Chúa nói: Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến với người ấy.. Ha-lê-lui-a.
Triều đại Người, đua nở hoa công lý
và thái bình thịnh trị
tới ngày nao tuế nguyệt chẳng còn.
Người làm bá chủ từ biển này qua biển nọ,

từ sông cả đến tận cùng trái đất.

Ngày 08/02 – Thánh Giôsêphina Bakhita, Trinh nữ (khoảng 1868-1947)
Giôsêphina Bakhita là một nô lệ trong nhiều năm nhưng tinh thần của bà luôn tự do và thanh thản. Giôsêphina sinh tại Olgossa, miền Darfur, Nam Sudan, bị bắt cóc lúc 7 tuổi, bị bán làm nô lệ và được đặt tên là Bakhita (nghĩa là “vận may”). Bakhita bị bán đi bán lại vài lần, cuối cùng là năm 1883, bà bị bán cho Callisto Legnani, lãnh sự Ý ở Khartoum, Sudan.
Hai năm sau, Callisto đưa Bakhita sang Ý và giao cho bạn ông ta là Augusto Michieli. Bakhita giữ con cho Mimmina Michieli, rồi Bakhita cùng Mimmina đến Trường Tân tòng (Institute of the Catechumens) ở Venice, do các nữ tu Canossa điều hành. Khi Mimmina đang học, Bakhita cảm thấy muốn theo đạo Công giáo. Và rồi Bakhita được rửa tội và thêm sức năm 1890, có tên là Giôsêphina. Khi gia đình Michieli trở về từ Phi châu, họ muốn đem Mimmina và Giôsêphina về với họ, Giôsêphina không chịu đi. Trong khi tìm cách kiện tụng, các nữ tu Canossa và thị trưởng Venice can thiệp giúp Giôsêphina. Thẩm phán kết luận rằng việc buôn bán nô lệ ở Ý là bất hợp pháp, và Giôsêphina được tự do từ năm 1885.
Giôsêphina vào Dòng Thánh Mađalêna Canossa năm 1893, ba năm sau Giôsêphina được tuyên khấn. Năm 1902, Giôsêphina được thuyên chuyển tới thành phố Schio (Đông Bắc Verona), ở đây bà giúp nhà dòng nấu ăn, may vá, thêu thùa và đón khách. Giôsêphina được trẻ em và dân địa phương quý mến. Có lần bà nói với họ: “Hãy sống tốt, hãy yêu mến Chúa, hãy cầu nguyện cho những người chưa nhận biết Chúa. Được biết Chúa là một hồng ân cao cả!”.
Án phong chân phước cho bà bắt đầu mở từ năm 1959. Mãi đến năm 1992, bà mới được ĐGH Gioan-Phaolô II phong chân phước và phong thánh vào năm 2000.