Chủ Nhật, 19 tháng 7, 2015

Ngày 20/07/1818 – 1857 Giám Mục Dòng Đaminh Thánh Giuse Diaz Sanjurjo An Tử Đạo

* Lá thư tâm sự.
Qua những lời lẽ được trích từ lá thư viết trong tù của thánh Giám Mục Giuse An, chúng ta có thể hiểu được phần nào tâm hồn của ngài. Với mẫu thân và mảnh giấy xé trong sách, ngài đã nắn nót từng chữ viết lên lời tuyên xưng niềm tin, bày tỏ ước nguyện dâng hiến đời mình hòa với hy tế của Đức Kitô và biểu lộ lòng xác tín vào Quê Trời vĩnh cửu, nơi ngài mong tái ngộ với mọi người thân yêu : "Tù nhân trong chúa gởi lời tạm biệt Đức Cha và các cha cho tới ngày gặp nhau trên trời. xin tất cả anh em tha thứ cho những điều lầm lỗi và gương xấu tôi đã làm ... Gông xiềng tôi đang mang được coi là những báu vật Chúa Giêsu gởi cho tôi. tôi vui mừng lắm vì chỉ ước ao đổ máu vì Chúa, để máu tôi hòa với Máu Cực Thánh Chúa Giêsu rửa linh hồn tôi được sạch mọi tội lỗi. xin anh em cầu nguyện cho tôi vững đến cùng...

Viết tại ngục Nam Định, ngày 28.05.1857, Fray José Maria".

* Ước vọng và nỗ lực.
Giuse Diaz Sanjurjo chào đời ngày 26.10.1818 tại Santa Eultia de Suegos, tỉnh Lugo nước Tây Ban Nha. Là con cả của gia đình năm anh em, trong đó người em gái là nữ tu Antonia. Lớn lên cậu theo học tại chủng viện Lugo. Vì nội chiến, cậu bị gián đoạn ba năm học phải trở về quê. Sau đó vào đại học Compostella. Trong giai đoạn này, Giuse Sanjurjo được biết và cảm mến sinh hoạt truyền giáo của dòng Đaminh Tại Viễn Đông. Vào dịp thuận tiện, cậu giã từ cha mẹ bạn bè và xin vào tu viện Santo Domingo Ocana của tỉnh dòng Đaminh Rất Thánh Mân Côi, đặc trách truyền giáo ở Viễn Đông.
Ngày 23.09.1842 cùng với bảy chủng sinh khác, cậu được lãnh tu dòng Thuyết Giáo. Năm sau ngày 24.09.1843, thầy Sanjurjo khấn dòng trong tay bề trên Orge. Vì đời sống đạo đức, nhiều khả năng và ước vọng loan báo Tin Mừng của thầy đã được khẳng định ngay từ khi thầy đến Ocana, nên sau đó nửa năm, thầy được gởi tới Cadiz chuẩn bị đến miền truyền giáo. Tại Cadiz, thầy thụ phong linh mục ngày 23.03.1844, và cùng với năm tu sĩ bạn đến Manila (Phi luật Tân) ngày 14.09 năm đó. Sáu tháng sau, vị linh mục trẻ tuổi lại lên đường qua Macao, rồi từ đó đến giáo phận Đông Đàng Ngoài ngày 12.09.1845 với tên Việt Nam: là An. Sau thời gian học tiếng Việt, cha được đề cử coi sóc chủng viện tại Nam Am.
Cuộc bách hại năm 1848 của vua Tự Đức đã gây thiệt hại nặng nề cho chủng viện. Cha An và cha Alcazar Hy phải gấp rút giải tán chủng sinh, cho chôn giấu các đồ thờ phượng, và đau buồn nhìn chủng viện bị tàn phá. Trong thư gởi cho bạn ở quê nhà, cha viết : "Chúng tôi chẳng còn nhà, chẳng còn sách vở quần áo, chẳng còn gì nữa… nhưng chúng tôi vẫn an tâm vì nhớ lời Thầy Chí Thánh : con người không có chỗ gối đầu…"
Sau đó cha An phải lánh nạn đến Ngọc Cục qua Ninh Cường vài tuần, rồi sang miền Cao Xá. Vì nhiệt tâm với tương lai của giáo phận, cha mở lại chủng viện cho các chủng sinh cũ ngay tại Cao Xá. Thời gian này cha biên soạn cuốn Văn phạm Latinh bằng tiếng Việt.
* Vị giám mục phó hăng say.
Năm 1848, vì số giáo hữu trong giáo phận gia tăng, Đức cha Hermosilla Liêm xin Tòa Thánh chia khu vực dòng Đaminh thành hai giáo phận. Qua văn thư ngày 05.09, Đức Piô IX thiết lập giáo phận Trung tách địa khỏi phận Đông Đàng Ngoài. Giáo phận Trung gồm hai giáo phận hiện nay là Bùi Chu, Thái Bình với khoảng 140.000 giáo hữu và 624 xứ.
Linh mục Marti Gia khi nghe tin được chọn làm Giám mục giáo phận mới thì tỏ ra lo lắng và đến hỏi ý kiến cha Sanjurjo An đang ở Trung Lễ. Trong bầu không khí trao đổi thân mật, cha An phân tích các mặt của nhiệm vụ Giám mục với những khó khăn trong thời cấm đạo. Rồi cha đề cập đến các nhu cầu của cộng đoàn dân Chúa, đến vai trò của các phẩm trật. Sau cùng cha đã thuyết phục thành công cha Marti Gia lãnh nhận vinh dự, cũng là gánh nặng chủ chăn giáo phận mới.
Nhưng một điều cha An không ngờ : trong sắc lệnh bổ nhiệm Đức cha Marti Gia, tòa thánh đã cho vị tân Giám mục quyền chọn vị Giám mục phó. Đức cha Gia liền chọn Giám mục phó là cha An, người đã thuyết phục mình nhận chức. Ngày 05.04.1849, cha Sanjurjo An được thụ phong giám mục hiệu tòa Platea cùng với cha Alcazar Hy, người được chọn làm Giám Mục phó cho Đức cha Hernosilla Liêm.
Sau đó, vị tân Giám mục lại trở về Cao xá tiếp tục coi sóc chủng viện. Trong thư gởi gia đình, Đức cha viết "Ở đây chức vụ cao chỉ thêm công việc, con thường phải đi bộ, có khi phải đi chân không, nhiều lần phải lội bùn đến đau gối, để trốn tránh những người tìm bắt".
Tháng 03.1850, Đức cha An trao chủng viện cho cha Sampedro Xuyên, rồi đi kinh lý toàn tỉnh Hưng Yên. Nhưng cuộc kinh lý phải bỏ dở vì quan quân truy lùng quá gắt gao. Hai linh mục Việt Nam cùng đi với cha bị bắt. Trở về Cao Xá, Đức cha bị sốt rét nặng một thời gian.
* Vị mục tử tận tình.
Năm 1852, Đức cha Marti Gia lâm bệnh nặng phải rời bỏ xứ truyền giáo và qua đời ngày 26.4 tại Hương Cảng trong sự luyến tiếc của các giáo hữu Việt Nam. Kể từ đó, Đức cha An phải gánh vác toàn Giáo phận Trung. Ngài về tòa Giám mục ở Bùi Chu và trực tiếp điều hành việc truyền giáo. Số tân tòng gia tăng mau lẹ. Số rửa tội năm 1852 của giáo phận ghi thêm tên của 28.355 người. Đức cha viết : "Đó quả là phần thưởng đầy khích lệ các nhà truyền giáo tiếp tục những trách vụ tông đồ, bất chấp mọi âm mưu của thần dữ, không nản lòng trước những cơ cực thiếu thốn, trước nguy hiểm vây quanh và những nghịch cảnh có thể xẩy đến…".
Năm 1854, Đức cha Sanjurjo An mở lệ trọng thể kính thánh tổ phụ Đaminh tại Lục Thủy, có đông đủ các cha dòng, cha triều, các chủng sinh, nữ tu và trên 20.000 giáo hữu khắp nơi về tham dự. Sau lễ, Đức cha họp hội đồng giáo phận để thảo luận về nhiều vấn đề có ích lợi chung. Ngài còn tổ chức thi kinh thánh giữa các giáo xứ và các buổi tranh luận về tôn giáo. Có lần ngài viết một số vấn nạn về giáo lý bằng chữ hán phát cho các thầy Nho. Đến ngày hẹn, khoảng 30 thầy, đa số ngoài công giáo đến dự họp. Đức cha khai mạc và nói vài lời gợi ý, sau đó để các thầy tự do phát biểu. Mọi thắc mắc đều được Đức cha giải đáp thỏa đáng, khiến các thầy và dân chúng trong huyện đó phải khâm phục.
Năm 1855, ba cha dòng mới từ Macao tới Việt Nam đem theo sắc lệnh đặt Đức cha An làm Giám mục đại diện Tông tòa giáo phận Trung, và trao quyền chọn phụ tá. Đức cha đã chọn cha Sampedro Xuyên và tổ chức lễ tân phong giám mục ngày 19.09 tại thánh đường Bùi Chu, với sự tham dự của 49 linh mục và đông đảo giáo dân, đến nỗi khu vực Bùi Chu không đủ nhà để trọ. Số trẻ ngoại đạo được rửa tội trong năm này là 35.349 em.
* Giông tố bách hại.
Từ năm 1854, tại miền Bắc có giặc Châu Chấu của Lê Duy Cự và Cao Bá Quát. Nhóm này hứa hẹn và cổ động giới công giáo tham gia nổi loạn, nhưng rất ít người theo vì Đức cha đã lên tiếng cấm chống lại chính quyền. Nhờ đó, các quan địa phương nới tay trong việc thi hành sắc lệnh của nhà vua. Tổng đốc Nguyễn Đình Tân biết rất chính xác trụ sở Tòa Giám mục, nhưng không muốn bắt, ông còn hứa hẹn nếu bất đắc dĩ phải đem quân truy nã thì ông sẽ cho báo trước.
Tháng 05.1857, đúng lúc có viên quan Thượng thư từ kinh đô ra Nam Định, thì Chánh Mẹo ở làng Thoại Miêu lên tỉnh tố cáo rằng : "Có đạo trưởng Tây tên An ở Bùi Chu". Vì có quan trên, quan Tổng đốc buộc lòng phải ra lệnh truy bắt, nhưng cũng báo cho Đức cha, tiếc rằng tin đến nơi thì Đức cha đã bị bắt. Khi quân lính đến bao vây, Đức cha luống cuống chạy ẩn đến bốn chỗ và cuối cùng, ngài ngồi giữa một bụi tre khá kín đáo. Nhưng đúng lúc ngài ló đầu ra xem lính đi chưa, thì bị phát hiện và bị bắt. Quân lính tước đoạt Thánh Giá và nhẫn Giám mục, sau đó trói ngài dẫn đi. Rồi họ kéo nhau vào nhà chung để cướp của và thiêu hủy những gì họ không đem đi được.
Sau một đêm bị giam tại phủ Xuân Trường, vị anh hùng đức tin được quan quân giải về Nam Định. Tại đây, Tổng đốc Nguyễn Đình Tân tỏ ra tiếc khi thấy Đức cha bị bắt, nhưng vì sợ quan Thượng Thư nên phải xử với ngài như tù phạm. Đức cha bị biệt giam hai tháng, chỉ còn ba lần một linh mục giáo phận vào ban bí tích, và một lần người của Đức cha Retord Liêu vào thăm. Tuy bị xiềng xích gông cùm, Đức cha An luôn bình tĩnh vui vẻ đón chờ phúc tử đạo. Nhiều lần quan bắt ngài đạp lên Thánh Giá nhưng ngài cương quyết từ chối.

* Nhát gươm di chúc.
Ngày 20.07.1857, có án tử hình từ kinh đô ra, truyền chém đầu "Tây dương đạo trưởng tên An". Trên đường ra pháp trường Nam Định, Đức cha An, tay cầm sách nguyện, vừa đi vừa suy niệm, vẻ mặt bình thản. Đến nơi xử, quân lính vây quanh ngài ba vòng : vòng trong cầm gươm, vòng giữa cầm giáo, vòng ngoài cầm cờ, cưỡi ngựa, cưỡi voi. Đức cha An xin hoãn một lát, rồi lớn tiếng nói đôi lời với những người có mặt, sau đó nói với viên chỉ huy : "Tôi xin gởi quan 30 đồng tiền để xin một ân huệ : xin đừng chém tôi một nhát, nhưng là ba nhát. Nhát thứ nhất tôi tạ ơn Chúa đã dựng nên tôi, và đưa tôi đến đất Việt giảng đạo. Nhát thứ hai để nhớ ơn cha mẹ sinh thành ra tôi, còn nhát thứ ba như lời di chúc cho các bổn đạo của tôi, để họ bền chí chết cho đức tin, theo gương vị chủ chăn của mình. Và như thế họ đáng lãnh phần hạnh phúc cùng các thánh trên trời".
Đức cha vừa dứt lời, quân lính trói ngài vào cây cọc hình Thập Giá. Dân chúng òa lên khóc. Lý hình chém Đức cha ba nhát như ngài xin. Đầu và mình của vị tử đạo bị liệng xuống sông. Có hai người lính thấm máu vị tử đạo liền bị tống giam. Đồ đạc, sách vở của Đức cha đều bị đốt. Chén lễ, áo lễ thì trao cho đoàn văn nghệ sĩ sử dụng. Đến sau dân chài lưới đã vớt được thủ cấp vị tử đạo. Đức cha Xuyên an táng thủ cấp này tại Bùi Chu, một thời gian sau, tu viện Santo Domingo ở Ocana xin rước cốt của Đức cha An về tôn kính từ năm 1891, vì Đức cha là vị tử đạo tiên khởi của tu viện.
Ngày 29.04.1951, Đức Piô XII suy tôn Đức cha Giuse Diaz Sanjurjo An lên bậc Chân Phước. Ngày 19-06-1988, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh.

Thứ Hai Tuần XV Thường Niên Mt 12,38-42.

Lời Chúa: Trong cuộc phán xét, nữ hoàng Phương Nam sẽ đứng lên cùng với thế hệ này.
Ha-lê-lui-a. Ngày hôm nay anh em chớ cứng lòng, nhưng hãy nghe tiếng Chúa. Ha-lê-lui-a.
Người là Chúa tôi thờ, xin dâng lời vinh chúc,

Người là Chúa tổ tiên, xin mừng câu tán tụng.

Ngày 20/07 –  Thánh Apollinaris, Giám mục Tử đạo (thế kỷ I)
     Theo truyền thống, thánh Phêrô gởi Apollinaris tới Ravenna, Ý, trong cương vị giám mục tiên khởi. Ngài rất thành công trong việc rao truyền Tin Mừng đến nỗi dân ngoại ở đó đánh đập ngài và lôi ngài ra khỏi thành phố. Tuy nhiên, ngài vẫn quay lại, và ngài lại bị trục xuất lần nữa. Sau khi giảng đạo ở quanh vùng Ravenna, ngài lại vào thành phố. Sau khi bị hành hạ dã man, ngài bị đưa lên tàu chơ tới Hy Lạp. Dân ngoại ở đó lại khiến ngài bị trục xuất sang Ý, từ đây ngài lại đi Ravenna lần thứ tư. Ngài qua đời vì bị thương do bị đánh đập ở Classis, ngoại ô Ravenna. Một đại giáo đường được xây dựng dâng kính ngài ở đó từ thế kỷ VI.

Thứ Bảy, 18 tháng 7, 2015

Chúa Nhật XVI Thường Niên Năm B

Lời Chúa: Họ như bầy chiên không người chăn dắt.

        Khi ấy, các Tông Đồ tụ họp chung quanh Đức Giê-su, và kể lại cho Người biết mọi việc các ông đã làm, và mọi điều các ông đã dạy. Người bảo các ông: " Anh em hãy lánh riêng ra đến một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút". Quả thế, kẻ lui người tới quá đông, nên các ông cũng chẳng có thì giờ ăn uống nữa. Vậy, thầy trò xuống thuyền đi lánh riêng ra một nơi hoang vắng. Thấy các ngài ra đi, nhiều người hiểu ý, nên từ khắp các thành, họ cùng nhau theo đường bộ chạy đến nơi, trước cả các ngài. Ra khỏi thuyền, Đức Giê-su thấy một đám người rất đông thì chạnh lòng thương, vì họ như bầy chiên không người chăn dắt. Và Người bắt đầu dạy dỗ họ nhiều điều.

SUY NIỆM & CẦU NGUYỆN
       Trong bài Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu khuyên các môn đệ hãy sống theo gương của Ngài, nhịp sống mỗi ngày của Chúa Giêsu với khởi đầu là cầu nguyện và kết thúc trong tĩnh lặng riêng tư cùng với Chúa Cha. Từ sáng sớm tinh mơ, Ngài dành thời gian đẹp nhất của một ngày mới để cầu nguyện. Sau đó bận rộn với biết bao công việc, nào là giảng dạy cho dân chúng và chữa lành các thứ bệnh tật phần hồn cũng nhưng phần xác cho con người. Chúa Giêsu thích sự cô tịch và tránh xa đám đông, Ngài thường chọn những nơi thanh vắng hoặc trên những đồi núi cao riêng biệt để Ngài cầu nguyện cùng Chúa Cha. Nhịp sống mỗi ngày của Chúa Giêsu tạo nên khuôn vàng thước ngọc cho tất cả các môn đệ phải noi theo Ngài trong cuộc sống thường ngày.
      Trong cuộc sống, có nhiều lúc chúng ta cũng cảm thấy sợ hãi trước trách nhiệm đã nhận lãnh. Chúng ta dường như không thể vác nổi gánh nặng đè xuống trên chúng ta, có nhiều lúc chúng ta cảm thấy như muốn kêu lên giống như Chúa Giêsu trong vườn Cây dầu năm xưa. “ Lạy Cha, nếu có thể, xin cất chén đắng này xa con.” Như nói tóm lại, mỗi khi chúng ta cảm thấy gánh nặng của bổn phận, của trách nhiệm đè xuống trên mình, chúng ta phải biết cầu nguyện và biết tìm đến với Chúa, và Ngài sẽ ban cho chúng ta nguồn sức mạnh, nâng đỡ chúng ta trên muôn vạn nẻo đường đời, như lời Chúa dạy: “ Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghĩ ngơi bồi dưỡng”. Vâng, dù bị đè bẹp dưới muôn vàn gánh nặng, như chúng ta cũng không hề nao núng vì có Chúa luôn ở cùng chúng ta.
       Xin được mượn lời cầu nguyện của Mẹ Têrêxa Calcutta, là thích thinh lặng và đã dâng lời cầu nguyện tha thiết với Chúa:
- Lạy Thiên Chúa, Đấng ưa thích sự thinh lặng, xin dạy chúng con thinh lặng để ở một mình với Ngài, trò chuyện, lắng nghe và thấm nhuần Lời Hằng Sống.
- Xin dạy chúng con thinh lặng nơi con mắt, biết nhắm lại trước những vấp váp của tha nhân, biết quay đi trước những dịp tội gây xao xuyến.
- Xin dạy chúng con thinh lặng nơi đôi tai, để nghe được tiếng kêu của người nghèo đói, để khép lại trước những mời mọc của ma quỷ.
- Xin dạy chúng con thinh lặng nơi miệng lưỡi, để biết ca tụng Chúa và đem lại an vui cho muôn người, tránh cho mọi lời nói gây đau đớn và đổ vỡ.
- Xin dạy chúng con thinh lặng nơi trí khôn, để mở ra trước sự thật và khép lại trước sự dối trá. Và cuối cùng xin dạy chúng con thinh lặng nơi quả tim, để tránh xa mọi ích kỷ, thù hằn, ghen ghét, để yêu mến và ước ao Thiên Chúa trên hết mọi sự. Amen.

Ngày 19/07 –  Tôi tớ Chúa Phanxicô Garces, Linh mục, và các bạn tử đạo (qua đời khoảng năm 1781)
     Việc chính phủ xen vào việc truyền giáo và chiếm đất đai xảy ra ở Ý khiến các tu sĩ này phải thiệt mạng.
     Phanxicô Garcés sinh năm 1738 tại Tây Ban Nha, và nơi đây ngài vào Dòng Phanxicô. Ngài thụ phong linh mục năm 1763 và được sai tới Mexico. Năm năm sau, ngài được sai tới San Xavier del Bac, gần Tucson, một trong số các đoàn truyền giáo của Dòng Tên được thành lập ở Arizona và New Mexico. Năm 1767, họ bị nhà vua Công giáo của Tây Ban Nha trục xuất khỏi lãnh thổ. Tại Arizona, ngài làm việc giữa những người Papago, Yuma, Pima và bộ lạc Apache ở Mỹ. Ngài còn đi truyền giáo ở Grand Canyon và California.
     Tu sĩ Phanxicô Palou, một người đương thời, viết rằng LM Garcés được dân bản xứ rất yêu mến, có những người trong số họ sống bình an một thời gian dài. Họ thường cho ngài đồ ăn và nhắc đến ngài với cách nói “Vạn tuế Chúa Giêsu” (Viva Jesus).
     Vì muốn hoán cải người bản xứ, các nhà truyền giáo Tây Ban Nha muốn tổ chức ổn định cho họ tránh thực dân và quân đội Tây Ban Nha. Như một tư lệnh ở Mexico khăng khăng cho rằng hai đoàn truyền giáo mới ở sông Colorado, Misión San Pedro y San Pablo và Misión La Purísima Concepción, đã được hòa nhập.
     Cuộc nổi dậy của người Yumas chống lại người Tây Ban Nha đã khiến các tu sĩ Juan Diaz và Matias Moreno thiệt mạng ở Misión San Pedro y San Pablo. Các tu sĩ Phanxicô Garcés và Juan Barreneche bị giết tại Misión La Purísima Concepción (nơi đồn Yuma).

Thứ Năm, 16 tháng 7, 2015

Ngày 18/07/1803 – 1836 Quân Nhân Đaminh Đinh Đạt Tử Đạo

(Trích trong tử đạo ngày 13/06/1839 Thánh Âug Huy, Thánh Nicola Thể)

Đaminh Đinh Đạt sinh năm 1803 tại làng Phú Nhai, tuy ít tuổi nhất nhưng ông đã gia nhập quân đội được 12 năm.
* Bổ làm tám khúc cũng được.
Về phần ông Đinh Đạt, sau khi đi công tác trên tỉnh, ông thu xếp việc nhà và chuẩn bị tâm hồn đón nhận cái chết anh hùng. Cuối tháng 06.1839, một người bạn đồng đội đến báo tin ông Huy và Thể đã bị hành hình, ông đạt tỏ ra rất vui mừng, báo tin cho cha mẹ, bà con, từ giã mọi người. Ông không tính chuyện chạy trốn, chỉ chờ đợi ngày bị bắt. Vợ con khóc lóc, ông lựa lời an ủi và quả quyết Chúa đã lo liệu quan phòng mọi sự. Khi quân lính đến vây bắt, ông lánh mặt ít giờ để xưng tội và rước lễ lần cuối, rồi thản nhiên đi theo họ lên tỉnh. Dọc đường ông sốt sắng lần chuỗi, suy niệm các mầu nhiệm kinh Mân Côi.

Đến Nam Định, lính đưa ông vào gặp Trịnh Quang Khanh, quan Tổng đốc bảo ông : "Hai bạn của ngươi vì cuồng dại không chịu bỏ đạo tà, nên bị chém làm tư quăng xuống biển. Còn ngươi, nếu khôn thì chối bỏ thứ tà đạo đi, để về với vợ con". Ông Đạt thẳng thắn thưa : "Tôi đã chịu nhiều cực hình vì đức tin, nay tôi sẵn sàng chịu thêm nhiều cực hình khác nữa. Hai bạn tôi đã được phúc trọng, quan cứ chém tôi làm tám khúc cũng được". Quan biết có đe dọa cũng không thành công, liền lập án gửi về kinh xin xử giảo.

* Phúc tử đạo
Ngày 18 tháng 07 năm 1839 Ông Đạt khi nghe đọc bản án trong trạng thái rất bình tĩnh, vui mừng đón nhận cái chết đã gần kề. ông theo lính ra pháp trường Bảy Mẫu, vừa đi vừa chăm chú đọc kinh. Đến nơi xử, ông quỳ trên chiếu cầu nguyện giây lát, rồi chờ quân lính tháo gông trên cổ, ông nằm xuống. Lý hình đứng hai bên dùng giây xiết cổ ông cho đến khi tắt thở. Tín hữu làng Phú Nhai thương lượng với quan quân đem thi hài vị anh hùng tử đạo về an táng tại khu đất của người anh cả vị anh hùng. Sau hài cốt của ông Đạt được lưu giữ tại nhà thờ Phú Nhai.

Ngày 27.05.1900, Đức Lêo XIII suy tôn ba vị anh hùng tử đạo : Augustinô Phan Viết Huy, Nicôlas Bùi Đình Thể và Đaminh Đinh Đạt lên bậc Chân Phước. Ngày 19-06-1988, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II suy tôn các ngài lên bậc Hiển thánh.

Thứ Bảy Tuần XV Thường Niên Mt 12,14-21.

Lời Chúa:Đức Giê-su cấm dân chúng không được tiết lộ Người là ai, để ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sai-a đã nói.
Ha-lê-lui-a. Trong Đức Ki-tô, Thiên Chúa đã cho thế gian được hòa giải với Người, và giao cho chúng tôi công bố lời hòa giải. Ha-lê-lui-a.
Nước Biển Đỏ Chúa phân làm hai khối,
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương,
đưa Ít-ra-en lối giữa băng qua,
muôn ngàn đời Chúa vẫn chọn tình thương,
xô xuống biển Pha-ra-ô cùng binh tướng,

muôn ngàn đời Chúa vẫn chọn tình thương.

Ngày 18/07 –  Chân phước Angeline Marsciano, Đồng trinh (1374-1435)
     CP Angeline thành lập cộng đoàn nữ tu Phanxicô đầu tiên, khác Dòng của thánh Clara, và được Đức giáo hoàng phê chuẩn. CP Angeline là con của công tước Marsciano (gần Orvieto). Bà mồ côi mẹ khi mới 12 tuổi. Ba năm sau, cô gái Angeline khấn trọn đời đồng trinh. Cùng năm đó, bà phải tuân lệnh cha để kết hôn với công tước Civitella. May thay, chồng bà tôn trọng lời khấn đồng trinh của bà.
     Hai năm sau, chồng bà qua đời, bà vào Dòng Phanxicô và cùng vài phụ nữ khác tự nguyện chăm sóc bệnh nhân, người nghèo, người góa bụa và trẻ mồ côi. Khi nhiều phụ nữ khác gia nhập cộng đoàn của CP Angeline, một số người kết án bà đã vi phạm ơn gọi hôn nhân. Bà đến gặp vua Naples để trả lời về lời kết tội kia, bà đã giấu than hồng trong áo. Khi bà nói mình vô tội và cho nhà vua thấy than hồng trong áo mà bà không bị làm sao, và nhà vua bỏ qua vụ này.
     Sau đó, bà và các bạn tới Foligno, nơi có cộng đoàn nữ Dòng Ba Phanxicô đã được giáo hoàng phê chuẩn năm 1397. Bà còn thành lập 15 cộng đoàn nữ khác tại các thành phố ở Ý. Bà qua đời ngày 14-7-1435, được phong chân phước năm 1825.

Thứ Tư, 15 tháng 7, 2015

Thứ Sáu Tuần XV Thường Niên Mt 12,1-8.

Lời Chúa: Con Người làm chủ ngày Sa-bát.
Ha-lê-lui-a. Chúa nói: Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng, và chúng theo tôi. Ha-lê-lui-a.
Biết lấy  chi đền đáp Chúa bây giờ
vì mọi ơn lành Người đã ban cho ?
Tôi xin nâng chén mừng ơn cứu độ

và kêu cầu thánh danh Đức Chúa.

Ngày 17/07 –  Thánh Phanxicô Sôlanô, Linh mục (1549-1610)
     Thánh Phanxicô Sôlanô xuất thân trong một gia đình có tiếng ở Andalusia, Tây Ban Nha. Có thể nhờ danh tiếng của ngài mà ngài đã can ngăn được 2 người đấu kiếm. Ngài vào Dòng Phanxicô năm 1570, sau khi thụ phong linh mục, ngài tận tâm sống vì người khác. Ngài chăm sóc bệnh nhân trong lúc dịch bệnh, được khâm phục đến nỗi ngài cảm thấy lúng túng, đáng lẽ ngài được sai đi truyền giáo ở Phi châu, nhưng sau đó ngài lại được sai tới Nam Mỹ năm 1589.
     Khi làm việc ở đó (nay là Argentina, Bolivia và Paraguay), ngài mau chóng nói được tiếng bản xứ và được dân bản xứ đón nhận. Những lần ngài đi thăm bệnh nhân, ngài thường cầu nguyện với cây vĩ cầm (violin, tức là viôlông).
     Khoảng năm 1601, ngài được saii tới Lima (thuộc Peru), tại đây ngài cố gắng kêu gọi thực dân Tây Ban Nha giữ tính toàn vẹn của bí tích Rửa tội. Ngài còn hoạt động để bảo vệ dân bản xứ khỏi bị áp bức. Ngài qua đời tại Lima và được phong thánh năm 1726.

Thứ Ba, 14 tháng 7, 2015

Thứ Năm Tuần XV Thường Niên Mt 11,28-30.

Lời Chúa: Tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường.
Ha-lê-lui-a. Chúa nói: Tất cả những ai đang vất vả mang gáng nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Ha-lê-lui-a.
Giao ước lập ra, muôn đời Người nhớ mãi,
nhớ lời cam kết đến ngàn thế hệ !
Đó là điều đã giao ước cùng với Áp-ra-ham,

đã đoan thệ cùng I-sa-ác.

Ngày 16/07 –  Đức Mẹ Camêlô
Camêlô được coi như ngọn núi thánh. Hơn 700 năm trước khi Chúa Giêsu ra đời, Elia đã lên núi này để bảo vệ niềm tin của mình trong cơn bách hại, cũng như đã đào tạo những tâm hồn trung thành với Thiên Chúa. Khi Chúa Giêsu ra đời, nhiệt tình của Elia như vẫn còn cháy trong lòng các người khắc kỷ (Esseniô). Người ta nói rằng ngày lễ hiện xuống, những người này nhờ lời rao giảng và phép rửa của thánh Gioan Tẩy giả đã hợp lực với các tông đồ để truyền bá Tin Mừng.
Camêlô khi ấy vẫn còn là nơi tụ họp những tâm hồn muốn hiến thân cho Thiên Chúa. Camêlô lại chỉ cách Nazareth chừng một ngày đường, nên những người họp thành cộng đoàn ở núi này hướng về Mẹ Maria như mẫu gương sống và như nguồn ơn phù trợ. Thời thập tự quân, Camêlô là nơi đón tiếp nhiều vị ẩn tu. Tuy nhiên vào thế kỷ thứ XII, Đức Thượng phụ Giáo chủ Albertô thành Giêrusalem đã qui tụ tất cả thành một nhà dòng, ban hành cho họ một qui luật được Đức giáo hoàng chuẩn y năm 1226. Cũng năm ấy, Đức Giáo hoàng cho phép mừng trọng thể trong dòng lễ Đức Bà Camêlô.
Khi lên làm bề trên nhà dòng, thánh Simon Stock đã tha thiết xin Đức Mẹ một dấu chỉ tỏ lòng săn sóc ưu ái của Mẹ đối với nhà dòng. Sau nhiều lời cầu nguyện lâu dài, ngày 16 tháng 7 năm 1251, Đức Mẹ đã hiện ra trao cho thánh nhân bộ áo dòng mà nói:
Hãy nhận lấy bộ áo dòng này Mẹ ban cho dòng và cho tu sĩ như dấu chỉ của lòng ưu ái và sự săn sóc Mẹ dành cho các con. Đây là dấu hiệu cứu rỗi. Giải thoát mọi hiểm nguy. Ai chết mà mang biểu hiện bình an này, sẽ khỏi bị lửa thiêu đời dời và Mẹ sẽ cứu họ khỏi lửa luyện tội vào ngày thứ bảy sau khi họ qua đời.
Trước cử chỉ ưu ái này, không biết bao nhiêu người mọi thời đã xin lãnh "áo Đức bà" để được sống dưới sự chở che của Đức Mẹ. Người ta hướng về Đức Mẹ núi Camêlô như hướng về nguồn ơn phúc để tạ ơn. Vì thế lễ mừng Đức Trinh Nữ Maria núi Camêlô ngày càng lan rộng tới các nước có vua công giáo ngày 21 tháng 11 năm 1674 và năm sau tới các nước vương quốc Áo, Bồ Đào Nha mừng từ năm 1679, các nước thuộc quyền Đức Giáo hoàng mừng năm 1725.
Đức Giáo hoàng Bênêdictô XIII phổ biến lễ này trong toàn Giáo hội do sắc lệnh ban hành ngày 24 tháng 9 năm 1726. Ngày 15 tháng 5 năm 1892, Đức Giáo hoàng Lêo XIII đã ban đặc ân ơn đại xá cho ai viếng nhà thờ trong lễ này.