Thứ Ba, 4 tháng 4, 2017

Ngày 06/04/ 1739-1857 Thánh Phao lô Lê Bảo Tịnh Linh mục Tử đạo

* Từ ẩn sĩ đến tử đạo

Khởii đầu là vị ẩn tu, kết thúc là vị tử đạo. Hai hình ảnh có vẻ như khác biệt nhau. Nhưng đối với Thánh Phaolô Lê Bảo Tịnh, điều quan trọng đâu có phải là hình ảnh, là lối sống, mà chính là NIỀM TIN : Thiên Chúa là tất cả. Lối sống có thể thay đổi, nhưng niềm tin mới là nền tảng chính yếu. Chính niềm tin đó đã dẫn dắt cuộc đời Phaolô Tịnh, từ một vị ẩn sĩ trở thành một vị linh mục nhiệt thành truyền giáo, một giáo sư tận tụy và sau cùng đến phúc tử đạo vinh quang.

* Rừng Vắng và sứ mạng
Phaolô Lê Bảo Tịnh sinh năm 1793 tại xã Trinh Hà, huyện Hoàng Hóa, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, là con thứ ba trong một gia đình Công Giáo. Năm 12 tuổi, cậu vào ở với cha Duệ xứ Bạch Bát. Sau ba năm, cậu được cha gửi đi học tại chủng viện Vĩnh Trị (Nam Định). Trong chủng viện, cậu là một chủng sinh gương mẫu. Trí thông minh bình thường, nhưng cậu hơn hẳn anh em về sự chăm chỉ, về tinh thần đạo đức,hãm mình, cậu ăn chay các ngày thứ sáu, đánh tội và nằm đất. Khuynh hướng sống khổ hạnh đó là bước đầu dẫn đến ý định ẩn tu của thầy Tịnh.
Có thể nói Lê Bảo Tịnh là một con người mến yêu Thiên Chúa triệt để. Thầy đã cương quyết hiến dâng cuộc đời cho Chúa. Thầy đã chọn Chúa, và muốn thể hiện điều ấy cách trọn vẹn. Chính vì thế, thầy tích trữ cơm khô, âm thầm rời bỏ chủng viện vào sâu trong rừng vắng để có dịp cầu nguyện và kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa bằng đời sống khắc khổ trong cô tịch.
Thế nhưng, đâu phải ai cũng có quyền sống đạo đức theo ý riêng. Thiên Chúa mời gọi con người vào công trình cứu chuộc cùa Ngài, thì chính Ngài sẽ xếp đặt công việc cho họ. Chính vì vậy, Đức cha Longer Gia đã chỉ thị cho các cha trong địa phận :” Nếu thầy Tịnh đến xưng tội, không linh mục nào được quyền giải tội, phải bảo thầy đến gặp Đức cha ngay”.
Và vị ẩn sĩ đạo đức ấy đã tìm ra ý Chúa qua vị Giám mục. Một năm trời quen với rừng sâu, giờ đây thầy phải từ giã để đón nhận những hy sinh mới, những công tác mà Giáo Hội đang cần đến thầy.
* Vị tông đồ trên đất Lào.
Để chuẩn bị cho những công tác lớn lao hơn, Đức cha cho thầy Tịnh về tiếp tục học thần học, lãnh các chức nhỏ, đồng thời tiếp tục dạy học. Đức cha Havard Du, kế vị Đức cha Gia, cử thầy sang Macao để
nhận những khoản trợ cấp cho địa phận. Hai chuyến đi trong hai năm, đồng thời cũng là hai lần thoát chết khỏi tay cướp biển và giông tố.
Năm 1837, Đức cha đề ra chương trình truyền giáo tại Lào, thầy Tịnh đã hăng hái lên đường. Sau một năm hoạt động, thấy việc tông đồ tiến triển tốt đẹp, thầy trở về địa phận xin Đức cha phái thêm người đi truyền giáo. Thế nhưng tình hình trong nước đã thay đổi. Thi hành lệnh vua, quan Tổng đốc Trịnh Quang Khanh lúc đó ra lệnh cấm đạo gắt gao.. Cha Mai Năm, ông Trùm Đích, ông Lý Mỹ bị bắt và tử đạo, chủng viện Vĩnh Trị phải đóng cửa, Đức cha Du phải ẩn tránh và qua đời ngày 05-07-1838. Đức cha Cao chịu tử đạo không kịp lãnh nhiệm vụ. Vì vậy, đoàn truyền giáo ở Lào phải về nước, chuẩn bị nhận công tác mới.
* Vào tù lần nhất và lưu đày..
Đức cha Retord Liêu, người kế vị Đức cha Du, cử thầy Tịnh đi dạy giáo lý tân tòng tại làng Thạch Tổ, xứ Bích Trì, tỉnh Hà Nam. Cuối năm 1841, Lý trưởng làng Thạch Tổ đã rình bắt được thầy Tịnh. Giáo hữu đem tiền nộp quan mong chuộc được thầy, nhưng thầy tỏ ra khí khái nói với quan :” Nếu chỉ vì có tiền mà tha thì tôi không muốn”.
Thế là thầy Tịnh bị giải về Tuần phủ Hà Nam, rồi lên Hà Nội. Ở đâu con người ấy tuy mảnh khảnh, y phục thô sơ, luôn đi chân đất, cổ đeo gông, nhưng tâm hồn thì chính trực và cương quyết. Các vị quan hung hổ đã không thể nào khuất phục nổi. Họ chỉ còn cách là đề án về kinh xin trảm quyết. Nhưng rất may, khi vua Thiệu Trị lên ngôi, bầu khí ác cảm với đạo đã giảm đi. Sáu lần quan đệ án vào kinh, cả sáu lần không được chấp thuận, để đến lần thứ bảy chuyển thành án lưu đày chung thân ở Phú Yên (Bình Định).
Trên đường lưu đày, người tù có thân hình mảnh mai nhưng tâm hồn cương nghị ấy luôn chứng tỏ lòng trung thành quả cảm với chân lý đức tin mình đang theo. Thầy đã mãnh liệt phản đối khi người ta gọi :” Gia Tô tà đạo”, đồng thời giải thích với mọi người về tôn giáo của mình.
Thời gian phát lưu không lâu thì vua Thiệu Trị băng hà (04-11-1847). Vua Tự Đức lên kế ngôi và ban ân xá, giải phóng tù nhân. Trở về địa phận trong niềm vui khôn xiết của nhiều người, thầy Tịnh vâng lời Đức cha lãnh chức linh mục, khi đã 56 tuổi. Khoảng một năm sau, vị tân linh mục được giữ chức Giám đốc kiêm giáo sư chủng viện Vĩnh Trị. Nhờ trước đây đã từng là ân nhân chữa bệnh đau mắt cho quan Tổng đốc Nam Định Nguyễn Đình Hưng, nên cha Giám đốc đã xin được giấy phép cho chủng viện được hoạt động một cách bán công khai, dưới hình thức một trường dạy chữ Nho và thuốc.

* Chân dung cha Phao lô Tịnh.
Thoạt nhìn, người ta chỉ có thể nhận thấy Phaolô Tịnh là một linh mục có thân hình dong dỏng cao gầy guộc, dáng vẻ đạo mạo, khắc khổ. Nhưng chỉ những ai gặp gỡ cha mới nhận ra đó là vị linh mục đầy lòng nhân ái, giản dị, khôn ngoan từng trải. Có lẽ những bước thăng trầm đây đó cùng với số tuổi khá cao khi lãnh chức linh mục, đã ảnh hưởng nhiều tới cuộc đời Tông đồ của cha. Ngài tận dụng thời giờ thật khít khao, cốt sao đạt được ích lợi tối đa. Trong những năm tháng đảm nhiệm chủng viện Vĩnh Trị với bao công việc, thế mà cha Giám Đốc vẫn thu xếp thời giờ để viết lách. Ta có thể kể những tác phẩm của cha :
- Phúc âm dẫn giải.
- Giáo lý đại cương
- Lục vấn lương tâm
- Những lời khuyên thực hành để giúp xa lánh tội trọng và dọn mình chết lành
Trong khi hướng dẫn chủng sinh, cha thường khuyên các thầy tuân giữ kỷ luật, vì chính cha đã từng có kinh nghiệm sâu sắc : Kỷ luật là ân nhân giúp thể hiện lòng mến Chúa, nâng đỡ đời tu. Đàng khác, cha còn chú tâm huấn luyện chủng sinh về đời sống cầu nguyện. Theo cha, một nhà truyền giáo mà không chú trọng việc cầu nguyện thì lời giảng sẽ không có sức thuyết phục. Lúc này, tuy không còn trực tiếp coi sóc giáo hữu, nhưng cha Tịnh rất siêng năng giải tội, giúp đỡ các tâm hồn hòa giải với Chúa. Một khía cạnh khác trong đời cha Phaolô Tịnh là lòng yêu mến Thánh Giá. Bất cứ nơi nào cha đã từng sống, đều có bong dáng của cây Thập Giá. Sau này khi bị bắt, các quan thấy cha có nhiều Thánh Giá quá, liền kháo nhau :” Ông cụ này nghiền Thánh Giá”.
Đúng vậy, không phải cha “nghiện” Thánh Giá bằng cách dựng nên khắp nơi, nhưng vì lòng tôn kính cuộc tử nạn của Chúa Ki-tô, đồng thời, ao ước sống cuộc đời Thánh Giá, mong muốn mình được góp phần vào dòng máu của Thầy Chí Thánh đã đổ ra để cứu chuộc trần gian.Lòng yêu mến ấy đã được bộc lộ qua nếp sống thật nhiệm nhặt, cả khi còn làm thầy sống ẩn tu, cũng như khi làm cha Giám đốc chủng viện. Bữa cơm thường nhật của cha là vài chén cơm với chén nước mắm và đĩa rau xanh. Cha ngủ nghỉ thường ở dưới đất, và ít khi ở trên giường. Thân xác cha hao mòn, nhưng bên trong vẫn chứa đựng một tâm hồn mãnh liệt, một trí thông minh sắc sảo.
Cha sống nhiệm nhặt đến quên mình, nhưng lại luôn lo lắng cho người khác. Cha thường thăm viếng, an ủi, ban các bí tích, giúp đỡ người nghèo, nhất là các bệnh nhân., kể cả những người bị bệnh nan y như phong cùi. Có thể nói cha Lê Bảo Tịnh đã tử đạo ngay trong cuộc sống, trước khi được phúc thực sự đổ máu vì đức tin trung kiên.
* Bị bắt lần hai.
Năm 1857, hai cha Kỳ và Hảo về tổ chức lễ tại nhà thờ Phát Diệm. Dịp này, ngoài thánh lễ còn có những cuộc rước long trọng. Biến cố rầm rộ này bị kẻ xấu báo cáo xuyên tạc với viên quan Ninh Bình:” Cụ đạo mở cờ khao quân”. Quan quân liền kéo về Phát Diệm vây bắt, nhưng hai cha Kỳ và Hảo đã về Vĩnh Trị rồi, nên họ gửi giấy yêu cầu quan Nam Định đi bắt hai linh mục đó. Quan tổng đốc Nam Định Nguyễn Đình Hưng vẫn nhớ ân tình với cha Phaolô Tịnh ( vị ân nhân đã chữa mắt cho mình ), nên đã cố gắng cản ngăn nhưng không xong. Kế hoạch vây bắt được ấn định vào ngày 27-02-1857 do quan phủ Nghĩa Hưng chỉ huy.
Trong khi đó, quan Tổng đốc đã nhờ người báo cho cha Tịnh ở Vĩnh Trị, nhưng vì Bất Ưng bị bệnh nặng, người đó không đi báo được, nên chủng viện Vĩnh Trị vẫn sinh hoạt bình thường cho đến khi quan quân vây kín làng. Sau mấy phút hội ý, Đức cha Liêu và các cha đồng ý chạy trốn, chỉ để lại cha Tịnh ở lại đối phó, với hy vọng tránh được những tàn phá. Cha Tịnh bình tĩnh mời quan phủ Nghĩa Hưng và ông Phán Trứ vào phòng uống nước, rồi trình bày giấy phép của quan Tổng đốc. Tuy nhiên, vì thấy trong nhà trường có nhiều đồ quốc cấm như sách latinh, đồ lễ và nhiều vật dụng khác từ nước ngoài gửi về, nên quan phủ cho lập biên bản và yêu cầu cha Tịnh ra tỉnh để điều tra thêm.
Trước khi đi, cha Tịnh vào nhà thờ cầu nguyện và từ giã các chủng sinh, những người con yêu quý nhất của cha. Đức cha Liêu có tìm cách chuộc lại cha Tịnh trước khi quan phủ giải cha lên tỉnh, nhưng không thành công. Đức cha liền cho người báo trước với quan Tổng đốc để nhờ quan lo liệu. Hôm sau, ông Phán Trứ giải cha Tịnh ra tỉnh. Tờ giấy phép mà quan Tổng đốc đã cấp cho cha Tịnh đã đưa quan vào thế kẹt. Các quan khác nghĩ rằng, chắc hẳn cha Tịnh phải mất một số tiền khá lớn mới kiếm được tờ giấy phép này.
Quan tổng đốc lâm vào tình thế thực khó xử, biết rõ cuộc đời, thân thế và sự nghiệp của cha Tịnh, thế mà chính quan Thượng Hưng lại là người hỏi cung cha. Trước tòa, quan không hỏi han gì cả, chỉ xin cha quá khóa thì sẽ tha về, nhưng cha Tịnh với tư cách là một linh mục làm sao có thể chấp nhận đề nghị ấy.
Năm ngày sau, cha Tịnh lại được đưa ra trước công đường. Cũng một câu hỏi, và cũng một lòng son sắt đó. Khi được lệnh viết lại bản lý lịch, cha vẫn xác nhận mình là linh mục. Quan Thượng Hưng khuyên cha không nên viết thế, chỉ nên khai là giáo hữu chuyên dạy chữ nho và làm thuốc, mới hy vọng thoát án chết. Đáp lại, cha cám ơn lòng tốt của quan, vẫn giữ y lời khai vì cho đó là một vinh dự lớn lao. Cha sẵn sàng chịu đựng tất cả vì vinh dự ấy. Lần cuối cùng, quan Thượng Hưng tìm cách cứu gỡ vị ân nhân của mình. Chính tay ông viết bản án và điền thêm ở dưới :
“ Xét rằng Lê Bảo Tịnh đã ngoài 60 tuổi, chiếu theo luật nước , không nên xử tử những người già nua tuổi tác như thế, xin cứ giam ở Nam Định và cứ giữ ở đó là tiện nhất”.

* Linh hồn tôi thuộc về Chúa.
TRong khi chờ đợi vua trả lời về bản án, cha Tịnh bị giam ở Trại Vệ. 37 ngày sống tại đây là cơ hội để cha củng cố đức tin cho các anh em yếu đuối, tìm cách liệu cho họ lãnh được lương thực tinh thần cũng như những trợ giúp về vật chất. Nhờ đó, họ thêm can đảm làm chứng cho Chúa trong những giây phút bi thương nhất. Về phần cha, đây là dịp chuẩn bị lần cuối để xứng đáng với diễm phúc tử đạo mà cha hằng ao ước. Cha sửa soạn cho giờ phút đó một cách đều đặn bằng việc đọc kinh nguyện ngắm. Chính khi củng cố lòng can đảm nơi người khác, cũng là lúc cha củng cố lòng tin cho mình. Trong những ngày này, cha không thể nào quên được đoàn con thân yêu ở chủng viện Vĩnh Trị. 12 ngày trước khi bị xử án, cha viết cho các chủng sinh một tâm thư rất cảm động và chan chứa những tư tưởng đạo đức.
Ngày 05-04-1857, án ra tới tỉnh, người hồi hộp nhất là quan Tổng đốc. Vua cải án giam thành án tử hình trảm quyết. Nhận được bản án, quan Thượng cố gắng một lần chót bằng cách khuyến dụ cha Tịnh xuất giáo. Nhưng làm sao cha lại chấp nhận được ? Cả một đời đã tận tụy với Thiên Chúa, cả một đời khát khao mong chờ diễm phúc lớn lao này, đến nay sắp được toại nguyện, lẽ nào lại bỏ đi ? Cha từ tốn đáp lại lời quan :”Tôi xin chân thành cám ơn quan, vẫn luôn có lòng tốt tìm cách cứu tôi. Thân xác tôi ở trong tay quan, xin làm khổ nó tùy ý, tôi rất vui lòng, không oán than gì. Nó chết đi nhưng mai này sẽ sống lại vinh quang. Còn linh hồn tôi là của Thiên Chúa, không có gì làm tôi hy sinh nó được, không ai có thể làm lay chuyển lòng tin của tôi. Đạo Thiên Chúa là chính đạo, là đạo thật, tôi yêu mến và giữ đạo ấy từ thủa bé, và dù tôi có chết cũng chẳng bỏ được”.
Lời khẳng khái ấy phát sinh từ quyết định thật can đảm và sáng suốt. Quyết định lựa chọn cái chết một cách hiên ngang, vì tin chắc rằng mình sẽ được sống muôn đời (Ga 12, 25)
Vinh phúc ấy, cha Phaolô Tịnh đã đạt được ngày 06-04-1857 tại pháp trường Bảy Mẫu ( Nam Định ) trong lời từ biệt gửi tới mọi người :” Anh em ở lại bình an, chịu khó giữ đạo và can đảm bền vững, đừng sợ chết nhé”.
Đức Thánh Cha Piô X đã suy tôn cha Phaolô Lê Bảo Tịnh lên bậc Chân Phước ngày 02-05-1909. Vào ngày 19-06-1988 Đức giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã phong cha lên bậc Hiển thánh.

Thứ Năm Tuần V Mùa Chay Ga 8,51-59.

Lời Chúa: Ông Áp-ra-ham là cha các ông đã hớn hở vui mừng vì hy vọng được thấy ngày của tôi.
TUNG HÔ TIN MỪNG: Ngày hôm nay, anh em chớ cứ lòng, nhưng hãy nghe tiếng Chúa.
Giao ước lập ra, muôn đời Người nhớ mãi,
nhớ lời đã cam kết đến ngàn thế hệ !
Đó là điều đã giao ước cùng Áp-ra-ham,

đã đoan thệ cùng I-sa-ác.

Ngày 06/04 – Thánh Crescentia Hoess (1682-1744)
Crescentia sinh năm 1682 tại một thành phố nhỏ gần Augsburg,con gái của một gia đình thợ dệt nghèoBà dành thời gian chơi đùa để cầu nguyện trong nhà thờgiúp đỡ những người nghèo khó hơn mình và tìm hiểu về đạo. Bà được rước lễ lần đầu lúc 7 tuổiTrong thành phố, bà được gọi là “thiên thần nhỏ”.
Lớn lên, bà muốn vào dòng nữ PhanxicôNhưng vì nhà dòng nghèo và vì bà không có của hồi mônbề trên từ chốiTrường hợp của bà được bào chữa nhờ một thị trưởng Tin lành nên nhà dòng được ân huệNhà dòng cảm thấy phải nhận bà vào dòngvà cuộc sống mới của bà là nghèo khóBà bị coi là gánh nặng và không được làm gì khác ngoài việc hầu bànTính vui vẻ của bà lại bị hiểu sai là nịnh bợ hoặc giả hình.
Sau 4 năm, tình trạng cải thiện hơn khi có bề trên mới và ngài nhận ra nhân đức củaCrescentia. Bà được bổ nhiệm làm giáo tập (mistress of novices)Bà được chị em yêu quý và kính phục, nên khi bề trên qua đờibà được chọn kế vịNhờ tình trạng tài chính của nhà dòng được cải thiện và danh tiếng của bà về các vấn đề tâm linh lan truyền rộng rãiBà được các hoàng tử và công chúa tham vấn, kể cả các giám mục và hồng y cũng đến nhờ bà tư vấnNhưng bà vẫn khiêm nhường là một nữ tu Phanxicô.
Cơ thể bà luôn đau nhứcMới đầu là nhức đầu, sau đó là nhức răngRồi bà không đi lại đượctay chân bà becomi tê cứng đến nỗi còng lưngTheo tinh thần của thánh Phanxicô, bà vui mừng kêu lên: “Toàn thân tôi hãy ngợi khen Chúa vì Ngài đã ban cho sức chịu đựng”. Dù đau đớn, bà vẫn bình an và vui vẻ. Bà qua đời vào Chúa nhật Phục sinh năm 1744. Bà được phong chân phước năm 1900 và được ĐGH Gioan-Phaolô II phong thánh năm 2001.

Thứ Hai, 3 tháng 4, 2017

Thứ Tư Tuần V Mùa Chay Ga 8,31-42.

Lời Chúa: Nếu Người Con có giải phóng các ông, thì các ông mới thực sự là những người tự do.
TUNG HÔ TIN MỪNG: Hạnh phúc thay người thành tâm thiện chí, hằng ấp ủ lời Chúa trong lòng, nhờ kiên nhẫn mà sinh hoa kết quả.
Lạy Chúa, chúc tụng Ngài
là Thiên Chúa tổ tiên chúng con,

chúc tụng danh thánh Ngài vinh hiển.

Ngày 05/04 – Thánh Vincentê Ferriô, Linh mục (1350?-1419)
Động thái phân biệt trong giáo hội ngày nay chỉ là “cơn gió thoảng” so với “cơn lốc xoáy” phá tan giáo hội trong thời thánh Vincentê Ferriô. Nếu có vị thánh nào là thánh bổn mạng hòa giải thì đó là thánh Vincentê Ferriô.
Mặc dù bị cha mẹ ngăn cản, ngài vẫn vào dòng Đa Minh tại Tây Ban Nha lúc 19 tuổi. Sau khi học hành xuất sắc, ngài được ĐHY Peter de Luna phong chức linh mục. Với bản chất nhiệt thành, ngài ngài hăng hái sống khổ hạnh theo luật dòng. Sau khi thụ phong linh mục không lâu, ngài được bầu làm bề trên dòng ở Valencia.
Cuộc ly giáo Tây phương đã phân chia Kitô giáo thành 2 phe, rồi 3 phe, có các giáo hoàng. Giáo hoàng Clêmentô VII ở Avignon (Pháp), giáo hoàng Urbanô VI ở Rôma. Vincentê tin rằng việc bầu chọn giáo hoàng Urbanô là vô hiệu (thánh Catarina Siena chỉ ủng hộ giáo hoàng ở Rôma). Vâng lời ĐHY de Luna, ngài thuyết phục người Tây Ban Nha theo giáo hoàng Clêmentô. Khi giáo hoàng Clêmentô qua đời, Hồng y de Luna được bầu chọn tạiAvignon và trở thành giáo hoàng Bênêđictô XIII.
Vincentê là thầy dạy của Tòa thánh. Nhưng giáo hoàng mới không từ chức tại mật nghị (conclave) như đã thề hứa. Ngài vẫn nhất quyết dù vua nước Pháp và đa số hồng y phản đối. Ngài thất vọng và bị bệnh nặng, nhưng cuối cùng ngài “đi khắp thế gian giảng về Chúa Kitô”, dù ngài cảm thấy có sự canh tân nào đó trong giáo hội tùy thuộc vào việc hàn gắn cuộc ly giáo. Ngài giảng sôi nổi và lưu loát, ngài dành 20 năm cuối đời đi loan truyền Tân ước khắp Tây Ban Nha, Pháp, Thụy Sĩ, các nước nhược tiểu và Lombardy, nhấn mạnh nhu cầu sám hối và sợ phán xét. Ngài nổi tiếng là Thiên thần Xét xử (Angel of the Judgment).
Những năm 1408 tới 1415, ngài cố gắng thuyết phục người bạn cũ từ chức nhưng không thành công. Cuối cùng ngài kết luận rằng Bênêđictô không là giáo hoàng thật. Dù rất bệnh, ngài vẫn lên bục giảng trước một hội nghị mà giáo hoàng Bênêđictô XIII chủ tọa và lớn tiếng tố cáo chính người đã truyền chức linh mục cho ngài. Bênêđictô XIII trốn mất vĩnh viễn, những người trước theo nay cũng bỏ. Lạ thay, Vincentê không tham dự Công đồngConstance – Công đồng này chấm dứt cuộc ly giáo đã kéo dài 36 năm. Lúc đó, giáo hội có ĐGH Martin V. Ngài qua đời ngày 05/04/1419.

Chủ Nhật, 2 tháng 4, 2017

Thứ Ba Tuần V Mùa Chay Ga 8,21-30.

Lời Chúa: Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ các ông sẽ biết là tôi Hằng Hữu.
TUNG HÔ TIN MỪNG: Hạt giống là lời Thiên Chúa, người gieo giống là Đức Ki-tô. Ai tuân giữ lời Người sẽ muôn đời tồn tại.
Lạy Chúa, xin nghe lời con cầu khẩn,
tiếng con kêu, mong được thấu tới Ngài.
Buổi con gặp gian truân, xin Ngài đừng ẩn mặt,
trong ngày con cầu cứu, xin Ngài lắng tai nghe

và mau mau đáp lời.

Ngày 04/04 – Thánh Isiđôrô Seville, Giám mục Tiến sĩ (560?-636)
Cuộc đời 76 năm của thánh Isiđôrô là thời gian xung đột và phát triển đối với giáo hội tại Tây Ban Nha. Người Visigoth đã xâm lăng suốt 150 năm, họ đã lập thủ đô ngay trước khi thánh nhân sinh ra. Họ là những người theo tà thuyết Arian (không tin Chúa Kitô là Thiên Chúa). Do đó, Tây Ban Nha bị phạn chia làm đôi: Một bên là những người theo Công giáo La mã chiến đấu chống lại bên kia là những người Gô-tích theo tà thuyết Arian (Arian Goths).
Isiđôrô đã thống nhất Tây Ban Nha, làm cho nước này trở thành trung tâm văn hóa và học tập, là thầy dạy và là người hướng dẫn các nước thuộc Âu châu có nền văn hóa bị những kẻ xâm lăng man rợ đe dọa.
Ngài sinh tại Cartagena, trong một gia đình có 3 vị thánh, ngài được người anh nghiêm khắc giáo dục, người anh này cũ trở thành giám mục giáo phận Seville.
Ngài là người giỏi cực kỳ, đôi khi người ta gọi ngài là “Hiệu trưởng thời Trung cổ” (The Schoolmaster of the Middle Ages), vì bộ bách khoa ngài viết được dùng làm sách giáo khoa suốt 9 thế kỷ. Ngài cho xây chủng viện ở mỗi giáo phận, soạn tu luật cho các nhà dòng và mở trường học dạy các môn. Ngài viết nhiều sách, kể cả  một tự điển, một bộ bách khoa toàn thư, một sách lịch sử Gô-tích và một sách lịch sử thế giới – bắt đầu bằng sự tạo thành! Ngài hoàn tất phụng vụ Mozarabic, vẫn được dùng ở Toledo, Tây Ban Nha. Vì các lẽ đó mà ngài (và vài vị thánh khác) được coi là thánh bổn mạng của internet.
Ngài tiếp tục sống khổ hạnh dù đã ngoài 70 tuổi. Trong 6 tháng cuối đời, ngài gia tăng làm việc bác ái nhiều đến độ nhà của ngài đầy người nghèo từ sáng tới khuya.

Thứ Hai Tuần V Mùa Chay Ga 8,1-11.

Lời Chúa: Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi.
TUNG HÔ TIN MỪNG: Ta chẳng vui gì khi kẻ gian ác phải chết, nhưng vui khi nó thay đổi đường lối để được sống.
Lòng nhân hậu và tình thương Chúa
ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời,
và tôi được ở đền Người

những ngày tháng, những năm dài triền miên.

Ngày 03/04 – Thánh Bênêđictô, người Phi châu (1526-1589)
Bênêđictô giữ những cương vị quan trọng trong dòng Phanxicô và khéo léo thích nghi với công việc khác khi hết nhiệm kỳ. Cha mẹ ngài bị bán làm nô lệ ở Messina, Sicily. Được trả tự do lúc 18 tuổi, Bênêđictô làm nông nghiệp để có lương và đủ tiền mua cặp bò. Ngài rất hảnh diện với cặp bò này. Khi sống với nhóm ẩn tu tại Palermo, ngài được đề cử làm lãnh đạo. Vì nhóm ẩn tu này sống theo tu luật của Thánh Phanxicô Khó nghèo, ĐGH Piô IV truyền cho họ gia nhập Dòng Nhất. Bênêđictô làm giáo tập (novice master) và rồi là quản lý dòng ở Palermo – các vị trí này thời đó hiếm khi được giao cho một tu sĩ. Thật vậy, Bênêđictô buộc phải chấp nhận việc bầu cử mình làm quản lý. Khi hết nhiệm kỳ, ngài vui mừng được trở lại làm bếp. Bênêđictô sửa lỗi anh em với lòng khiêm ngường và bác ái. Có lần ngài sửa lỗi một tập sinh và giao làm việc đền tội và rồi biết rằng tập sinh đó không phạm lỗi.
Ngài lập tức quỳ trước mặt tập sinh đó và xin tha thứ.
Cuối đời, Bênêđictô không sở hữu thứ gì cho mình dùng. Ngài không bao giờ nói là “của tôi” mà luôn nói là “của chúng ta”. Ngài có tiếng là chuyên cần cầu nguyện và có biệt tài hướng dẫn các linh hồn khiến khắp vùng Sicily đều biết sự thánh thiện của ngài. Theo gương thánh Phanxicô Assisi, Bênêđictô ăn chay quanh năm, mỗi đêm chỉ ngủ vài giờ. Trong dòng Phanxicô thời đó, cương vị lãnh đạo được hạn chế về thời gian. Khi hết nhiệm kỳ, các cựu lãnh đạo đôi khi gặp khó khăn để thích nghi với vị trí mới. Giáo hội cần các nam nữ tu sĩ sẵn sàng cố gắng trong cương vị lãnh đạo – nhưng họ lại không sẵn sàng ở cương vị khác khi mãn nhiệm kỳ lãnh đạo. Sau khi ngài qua đời, vua Philip III của Tây Ban Nha xây cho ngài một ngôi mộ đặc biệt. Ngài được phong thánh năm 1807, và được người Mỹ gốc Phi tôn kính là thánh bổn mạng.
Chúa Giêsu nói: “Tôi đến để phục vụ chứ không để được phục vụ” (x. Mt 20:28). Thánh Phanxicô Assisi viết trong Lời Khuyên IV (Admonition IV): “Những người được đặt trên những người khác nên vinh dự làm việc đó chỉ khi nào họ nhận trách nhiệm rửa chân cho anh em. Họ càng buồn vì mất chức vụ thì họ càng mất nhiệm vụ rửa chân, và họ càng tích lũy kho tàng những mối hiểm họa cho linh hồn" (x. Ga 12:6).

Ngày 02/04/1775-1839 Thánh Đaminh Vũ Đình Tước Linh mục Tử đạo.

* Kết thúc một thánh lễ.

Kể từ lúc bị bắt cho đến lúc chịu chết vì danh Đức Kitô, cuộc tử đạo của Thánh Đaminh Tước chỉ vọn vẹn trong vài tiếng đồng hồ. Thế nhưng đây là cuộc tử đạo có một không hai, viết nên một trang sử độc đáo của Giáo Hội Việt Nam. Vị linh mục đạo đức đã sống những khoảnh khắc cuối cùng của đời mình như một Thánh lễ. Bị đánh trọng thương nằm giữa các tín hữu thân mến và hấp hối trong vũng máu đào của chính mình, thánh nhân vẫn tiếp tục khích lệ anh em, vẫn dâng lời chúc tụng tạ ơn tha thiết và dâng chính mạng sống cho Đức Kitô, Đấng ngài không ngừng gọi tên trong giây phút sau hết.

* Dĩ đào vi thượng.
 Đaminh Vũ Đình Tước sinh năm 1775 tại làng Trung Lao, tỉnh Nam Định. Ngay từ bé cậu đã tỏ ra là người đạo đức vững chắc. Khi được làm linh mục cha Tước tận tụy không biết mỏi mệt trong việc thánh hóa các tín hữu. Ngày 17-04-1811, cha Tước xin nhập dòng Thánh Đaminh  và tuyên khấn ngày 18-04 năm sau. Đức cha Delgado Y bổ nhiệm cha coi sóc các tín hữu ở Xương Điền một làng công giáo đông đảo của Giáo phận Đông Đàng Ngoài.
 Từ năm 1838, khi cuộc bách hại của vua Minh Mạng trở nên mãnh liệt tại giáo phận Đông, cha phải ẩn náu trong nhà các tín hữu. Ông Đaminh Đoài kể rằng: “Cha Đaminh Tước trú ẩn ở nhà tôi hai tháng. Trong thời gian này tôi chứng kiến đời sống đạo đức sâu sa của cha. Ngài thức trắng đêm để cầu nguyện, và dâng thánh lễ ngay từ tảng sáng. Khi đó tôi ra ngoài vườn canh chừng giúp cha. Một hôm tôi hỏi Ngài: “Nếu người ta đến bắt cha, cha sẽ xử trí thế nào ?”. Ngài liền đáp: “Chạy trốn nếu có thể, còn không thể trốn nữa thì vâng theo ý Chúa”. Điều ngài thường lo lắng là làm thế tránh không gây thiệt hại cho chúng tôi, những người cho Ngài trú ẩn”.

* Mưu sự tại nhân.
 Gần nơi cha Tước trú ẩn có một viên quan Bát phẩm tên là Phan, phụ trách huyện Cẩm Hà. Trước đây ông đã từng góp phần bắt Đức Cha Henares Minh và thày Chiểu, được vua thưởng trọng hậu, nên rất sốt sắng trong việc tìm bắt các linh mục khác. Ngày 02-04-1839, có tin mật báo viên quan này liền dẫn 40 người đến bao vây bắt cha Tước tại nhà ông Nhiêu Tĩnh, nơi ngài trọ.
 Cha Tước đang dâng lễ, nghe thấy tiếng động vội vàng cởi áo lễ, dự định chạy qua vườn đến nhà một người khác. Nhưng đám người kia đã nhìn thấy và chặn cha lại. Noi gương thày chí thánh xưa trong vườn Cây Dầu, Cha hỏi: “Các ông đi tìm ai ?” và khi họ nói tìm bắt linh mục, cha liền xác định: “Chính tôi đây”. Quả đúng như cha dự đoán trước  nếu không trốn kịp thì xin  cho ý Chúa được thể hiện. Thế là họ trói cha lại và áp giải về Cẩm Hà, huyện Giao Thủy, Nam Định.
 Các tín hữu ở Xương Điền mới đầu tưởng là quân triều đình nên tỏ ra ngần ngừ. Đến khi biết nhóm người này của Bát Phan, liền xin bỏ tiền mua chuộc. Nhưng phe đối phương không chịu, họ muốn nhận tiền thưởng lẫn danh vọng do nhà vua trao tặng. Thế là khi đoàn người vừa di chuyển, các tín hữu liền hô hào nhau cầm gậy gộc rược theo để giải cứu cho người cha thiêng liêng yêu quý, nhiều phụ nữ cũng tham gia vào cuộc giải cứu này.

* Thành sự tại thiên.
Về phần nhóm người bắt giữ, vì phải lôi theo một “tù nhân” bị trói, thấy khó lòng đạt mục đích, liền chọn giải pháp cuối cùng, thanh toán luôn “đối tượng”trong tầm tay. Theo lệnh của viên chỉ huy, một người tên Ngọc liền bổ lên đầu linh mục một nhát búa, khiến ngài ngã gục trong vũng máu. Sau đó họ tản ra chạy thục mạng để thoát thân. Các tín hữu lúc đó vừa rượt tới, một số ở lại săn sóc cha Tước, còn tất cả nổi nóng đuổi theo đám sát nhân và bắt được ít người, trong đó có cả viên chỉ huy, và đem nộp cho quan xét xử.
 Phần cha Tước, ngài tỏ ra rất bình tĩnh trong giây phút hấp hối. Ngước nhìn các bổn đạo đang nức nở vây quanh, cha lựa lời trấn an họ, khích lệ tất cả kiên trung làm chứng cho đức tin. Một tín hữu xé áo định băng vết thương đẫm máu trên đầu cha, nhưng ngài ra dấu cản lại và mời mọi người hiệp ý dâng lời cầu nguyện. Sau đó cha sốt sắng tạ ơn Chúa về những ơn lành đã nhận được trong suốt cuộc đời, nhất là ơn được đổ máu vì đức tin.
 Vết thương quá trầm trọng, máu ra nhiều sức lực vị linh mục cạn dần, lời cha nói mỗi lúc càng nhỏ bớt, và cuối cùng họ chỉ nghe được những tiếng thều thào kêu tên cực trọng Đức Kitô. Thánh lễ dở dang buổi sáng giờ đây kết thúc bằng hy lễ mạng sống bằng chính vị chủ tế. Các tín hữu coi ngài như vị tử đạo, nên thấm máu ngài làm thánh tích.
 Thi hài cha Tước được đưa về an táng tại nhà thờ Xương Điền. Giáo Hội đã xác nhận chứng tá tử đạo của cha Đaminh Vũ Đình Tước, linh mục dòng thuyết giáo.
 Đức Lêo XIII suy tôn ngài lên bậc Chân Phước ngày 27-05-1900. Ngày 19-06-1988, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh.

Chúa Nhật V Mùa Chay Năm A

Lời Chúa: Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống.
       Hồi đó, có một người bị đau nặng, tên là La-da-rô, quê ở Bê-ta-ni-a, làng của hai chị em cô Mác-ta và Ma-ri-a. Cô Ma-ri-a là người sau này sẽ xức dầu thơm cho Chúa, và lấy tóc lau chân Người. Anh La-da-rô, người bị đau nặng, là em của cô. Hai cô cho người đến nói với Đức Giê-su: “Thưa Thầy, người Thầy thương mến đang bị đau nặng.” Nghe vậy, Đức Giê-su bảo: “Bệnh này không đến nỗi chết đâu, nhưng là dịp để bày tỏ vinh quang của Thiên Chúa: qua cơn bệnh này, Con Thiên Chúa được tôn vinh.”
     Đức Giê-su quý mến cô Mác-ta, cùng hai người em là cô Ma-ri-a và anh La-da-rô. Tuy nhiên, sau khi được tin anh La-da-rô lâm bệnh, Người còn lưu lại thêm hai ngày tại nơi đang ở. Rồi sau đó, Người nói với các môn đệ: “Nào chúng ta cùng trở lại miền Giu-đê!” Các môn đệ nói: “Thưa Thầy, mới đây người Do-thái tìm cách ném đá Thầy, mà Thầy lại còn đến đó sao?” Đức Giê-su trả lời: “Ban ngày chẳng có mười hai giờ đó sao? Ai đi ban ngày thì không vấp ngã, vì thấy ánh sáng của thế gian này. Còn ai đi ban đêm, thì vấp ngã vì không có ánh sáng nơi mình!”
     Người nói những lời này, sau đó Người lại bảo họ: “La-da-rô, bạn của chúng ta, đang yên giấc; tuy vậy, Thầy đi đánh thức anh ấy đây.” Các môn đệ nói với Người: “Thưa Thầy, nếu anh ấy yên giấc được, anh ấy sẽ khoẻ lại.” Đức Giê-su nói về cái chết của anh La-da-rô, còn họ tưởng Người nói về giấc ngủ thường. Bấy giờ Người mới nói rõ: “La-da-rô đã chết. Thầy mừng cho anh em, vì Thầy đã không có mặt ở đó, để anh em tin. Thôi, nào chúng ta đến với anh ấy.” Ông Tô-ma, gọi là Đi-đy-mô, nói với các bạn đồng môn: “Cả chúng ta nữa, chúng ta cũng đi để cùng chết với Thầy!”
     Khi đến nơi, Đức Giê-su thấy anh La-da-rô đã chôn trong mồ được bốn ngày rồi. Bê-ta-ni-a cách Giê-ru-sa-lem không đầy ba cây số. Nhiều người Do-thái đến chia buồn với hai cô Mác-ta và Ma-ri-a, vì em các cô mới qua đời. Vừa được tin Đức Giê-su đến, cô Mác-ta liền ra đón Người. Còn cô Ma-ri-a thì ngồi ở nhà. Cô Mác-ta nói với Đức Giê-su: “Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết. Nhưng bây giờ con biết: Bất cứ điều gì Thầy xin cùng Thiên Chúa, Người cũng sẽ ban cho Thầy.” Đức Giê-su nói: “Em chị sẽ sống lại!” Cô Mác-ta thưa: “Con biết em con sẽ sống lại, khi kẻ chết sống lại trong ngày sau hết.” Đức Giê-su liền phán: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết. Chị có tin thế không?” Cô Mác-ta đáp: “Thưa Thầy, có. Con vẫn tin Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian.”
      Nói xong, cô đi gọi em là Ma-ri-a, và nói nhỏ: “Thầy đến rồi, Thầy gọi em đấy!” Nghe vậy, cô Ma-ri-a vội đứng lên và đến với Đức Giê-su. Lúc đó, Người chưa vào làng, nhưng vẫn còn ở chỗ cô Mác-ta đã ra đón Người. Những người Do-thái đang ở trong nhà với cô Ma-ri-a để chia buồn, thấy cô vội vã đứng dậy đi ra, liền đi theo, tưởng rằng cô ra mộ khóc em.

       Khi đến gần Đức Giê-su, cô Ma-ri-a vừa thấy Người, liền phủ phục dưới chân và nói: “Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết.” Thấy cô khóc, và những người Do-thái đi với cô cũng khóc, Đức Giê-su thổn thức trong lòng và xao xuyến. Người hỏi: “Các người để xác anh ấy ở đâu?” Họ trả lời: “Thưa Thầy, mời Thầy đến mà xem.” Đức Giê-su liền khóc. Người Do-thái mới nói: “Kìa xem! Ông ta thương anh La-da-rô biết mấy!” Có vài người trong nhóm họ nói: “Ông ta đã mở mắt cho người mù, lại không thể làm cho anh ấy khỏi chết ư?” Đức Giê-su lại thổn thức trong lòng. Người đi tới mộ. Ngôi mộ đó là một cái hang có phiến đá đậy lại. Đức Giê-su nói: “Đem phiến đá này đi.” Cô Mác-ta là chị người chết liền nói: “Thưa Thầy, nặng mùi rồi, vì em con ở trong mồ đã được bốn ngày.” Đức Giê-su bảo: “Nào Thầy đã chẳng nói với chị rằng nếu chị tin, chị sẽ được thấy vinh quang của Thiên Chúa sao?” Rồi người ta đem phiến đá đi. Đức Giê-su ngước mắt lên và nói: “Lạy Cha, con cảm tạ Cha, vì Cha đã nhậm lời con. Phần con, con biết Cha hằng nhậm lời con, nhưng vì dân chúng đứng quanh đây, nên con đã nói để họ tin là Cha đã sai con.” Nói xong, Người kêu lớn tiếng: “Anh La-da-rô, hãy ra khỏi mồ!” Người chết liền ra, chân tay còn quấn vải, và mặt còn phủ khăn. Đức Giê-su bảo: “Cởi khăn và vải cho anh ấy, rồi để anh ấy đi.” Trong số những người Do-thái đến thăm cô Ma-ri-a và được chứng kiến việc Đức Giê-su làm, có nhiều kẻ đã tin vào Người.

SUY NIỆM & CẦU NGUYỆN
      Bài Tin Mừng hôm nay, cho chúng ta thấy nét đẹp tuyệt vời và đầy cảm động ở Chúa Giêsu. Chúng ta nhìn thấy Ngài, là Con Thiên Chúa, nhưng đã khóc bên nấm mồ của Ladarô. Từ đó, chúng ta khám phá ra bản tính con người của Ngài là yêu thương và tha thứ. Bởi vì Ngài đã từng chịu đói, chịu khát, chịu mệt mỏi, chịu đau đớn, cho nên Ngài sẽ hiểu chúng ta hơn, khi chúng ta lâm vào hoàn cảnh khó khăn, như câu tục ngữ: ‘Lên non mới biết non cao.’ Và như vậy, Ngài hiểu rõ thân phận chúng ta. Và chính sự hiểu biết này, đem lại cho chúng ta niềm vui mừng và hy vọng được cứu độ.
      Mùa chay là mùa tịnh tâm, cầu nguyện và tập luyện các nhân đức: Đức tin, đức cậy và đức mến, đức mến phủ trùm mọi khía cạnh của cuộc sống. Mỗi một lời nói, cử chỉ và hành động bác ái, là chúng ta phản ánh được tình yêu thương và chia sẻ. Con đường dẫn vào Nước Trời được xây trên nền tảng của tình bác ái yêu thương, tình yêu mạnh hơn sự chết. Chúa Kitô vì yêu thương nhân loại đã hiến mình chịu đau khổ, chịu chết trên thánh giá và đã sống lại vinh quang bên hữu Thiên Chúa.
     Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, xin cho chúng con biết rao giảng về lời Chúa, không phải bằng lời nói suông, nhưng bằng chính cuộc sống chứng tá và bằng chính trái tim tràn đầy yêu thương của Chúa.  Amen

Ngày 02/04 – Thánh Phanxicô Paola, Ẩn tu (1416-1507)
Phanxicô sinh tại Paola, Calabria (Ý), và được học tại dòng Phanxicô ở San Marco (Thánh Mác-cô). Cha mẹ ngài có tiếng là đạo đức, ngài sống ẩn dật tại Paola từ khi 15 tuổi. Năm 1436, ngài cùng hai người bạn lập cộng đoàn được coi là nền tảng của dòng Minim (Minim Friars). Ngài xây một tu viện và sống ẩn tu ở đây khoảng 15 năm. Ngài soạn luật dòng chú trọng việc hành xác, bác ái và khiêm nhường, đồng thời thêm 3 lời khấn dòng, có lời khấn ăn chay và kiêng thịt. Ngài còn viết luật dòng ba và dòng nữ.
Ngài được tin là làm nhiều phép lạ, nói tiên tri và thấu hiểu lòng người. Dòng được ĐGH Sixtô IV phê chuẩn năm 1474 với tên gọi là Dòng Ẩn tu Thánh Phanxicô Assisi (năm 1492 đổi thành Dòng Minim). Phanxicô các cơ sở ở Nam Ý và Sicily, danh tiếng ngài được biết đến nhiều đến nỗi Vua Louis XI của Pháp quốc cho mời ngài vì lúc đó nhà vua đang thập tử nhất sinh, ĐGH Sixtô II truyền cho ngài sang Pháp, nhà vua cảm thấy mình được Phanxicô chữa khỏi. Nhà vua không khỏi, nhưng vẫn vui mừng, chính hoàng tử của vua Louis XI, sau là vua Charles VIII, trở thành bạn của Phanxicô và tài trợ cho Phanxicô xây vài tu viện. Phanxicô sống phần đời còn lại tại tu viện Plessis, Pháp, nơi mà vua Charles VIII xây cho ngài. Phanxicô qua đời ngày 2/4/1507 và được phong thánh năm 1519.