Thứ Năm, 7 tháng 4, 2016

Ngày 07/04/1812-1861 Thánh Phêrô Nguyễn Văn Lựu Linh mục Tử đạo

* Hy sinh vì sứ vụ

Đọc lại toàn bộ lịch sử thời tử đạo Việt Nam, hầu như trong bất cứ cuộc tử đạo nào cũng thấy bóng dáng một linh mục bản quốc. Dầu hoàn cảnh khó khăn nguy hiểm, các vị đã can đảm hiện diện, hoặc hóa trang vào thăm giáo hữu ở trong tù, ban bí tích hòa giải và trao Mình Thánh Chúa; hoặc ít ra đón các tín hữu bị đưa ra pháp trường và bí mật giải tội cho họ. Linh mục Phêrô Nguyễn Văn Lựu là trường hợp tiêu biểu cho sự kiện này. Cha bị bắt đang khi lén vào làm việc mục vụ trong ngục.

Thánh Phêrô Nguyễn Văn Lựu Lm Tử đạo
* Mục tử săn sóc đoàn chiên.
Phêrô Nguyễn Văn Lựu sinh năm 1812 tại Gò Vấp, Gia Định (Sài Gòn). Lớn lên cậu dâng mình cho Chúa, vào chủng viện và được gửi đi học ở Pénang, rồi được thụ phong linh mục. Cha được bổ nhiệm phụ trách nhiều giáo xứ như Mặc Bắc, Sa Đéc, Mỹ Tho… Cha thực thi nhiệm vụ một cách rất chu đáo. Cha chú tâm nhiều đến việc giảng dạy giáo lý, quan tâm đến từng gia đình trong xứ đạo, thường xuyên thăm viếng khuyên bảo họ. Các giáo hữu quý mến và sẵn sàng nghe theo lời của cha, ngay cả khi bị cha khiển trách lỗi lầm của họ. Cha Lựu chỉ mắc một tật nhỏ nhưng đã bỏ được. Vì gặp gỡ giao thiệp với dân đồng bằng Cửu Long, cha thường uống rượu với họ. Một hôm đang đi trên thuyền, cha mời linh mục Thuyết ở thuyền khác qua làm vài “xị”, nhưng vị này nhất mực từ chối :” Tôi không uống vì nhiều lý do, uống rượu vừa tốn kém, vừa mất tỉnh táo, lại chẳng phải là gương tốt cho tín hữu”. Ngay lúc đó cha Lựu ném chai rượu xuống sông và nói :” Từ hôm nay tôi không uống nữa”. Và cha đã trung thành giữ lời hứa đó.
Đầu năm 1853, cha Lựu thoát chết một cách may mắn. Khi đó, cha đang là cha sở họ Mặc Bắc và vừa được bổ nhiệm đến nơi khác thì quan trấn phủ Vĩnh Long, theo mật báo, đến vây bắt cha. Cha Philipphe Phan Văn Minh và ông trùm Giuse Lựu bị bắt thế mạng.
Năm 1860, cha Phêrô Lựu đang phụ trách xứ Ba Giòng thì có lệnh quan trấn bắt tất cả các tín hữu có tên tuổi ở Xoài Mút và Ba Giòng (gần Mỹ Tho) đưa về giam tập trung ở tỉnh. Vì thương anh em bổn đạo, cha thường cải trang vào thăm viếng ủy lao.
Các tín hữu coi cha như thiên thần Chúa gửi đến đem cho họ lương thực Thánh Thể, ân sủng và bình an. Để thực hiện điều này, có lúc cha phải bỏ tiền mua chuộc lính canh và thận trọng lời nói với cấp trên của họ.

* Gương sáng trong ngục tối
Tháng 12-1860, một hôm trong lúc đang gặp các tín hữu trong tù, vô tình cha để một lá thư chìa ra miệng túi áo. Viên quan thanh tra trại giam đi qua trông thấy liền ra lệnh bắt giam. Biết không thể giấu được nữa, cha liền nhận mình là linh mục. Thế là cha được chia sẻ đòn đánh, tra khảo, dọa nạt chung với các tín hữu của mình. Từ nay cha không chỉ an ủi, động viên anh em bằng lời nói suông nữa, mà bằng chính mẫu gương cuộc đời của mình : Bất chấp mọi đau đớn sỉ nhục, nhất quyết giữ vững niềm tin, chứ không bỏ đạo. Các quan bắt cha xuất giáo, cha trả lời :
“Đạo đã thấm nhập trong xương trong tủy, tôi làm sao bỏ được. Vả lại một người giáo hữu thường, một thầy giảng còn không có quyền bỏ đạo, huống nữa tôi đây là đạo trưởng”.
Nhận thấy mọi hình khổ đều vô ích, quan tỉnh Mỹ Tho liền lên án trảm quyết cha. Ngày 07-04-1861, quân lính dẫn vị chứng nhân đức tin ra khỏi cửa thành độ một cây số, rồi chém cha ngay bên vệ đường. Viên đao phủ vì mê tín, sợ người đã chết nhập vào mình, nên vừa chém xong liền quăng đao chạy trốn.
Thi hài vị tử đạo được các tín hữu thu lại đem về an táng chung với gông cùm và một chiếc bình đất vấy máu ngài. Về sau hài cốt của cha được dời đến đặt tại bàn thờ chính thánh đường Mỹ Tho. Năm 1960, hài cốt ngài lại được cải táng về nhà thờ chính tòa Sài Gòn.
Ngày 02-05-1909, Đức Thánh Cha Pio X đã suy tôn cha Phê rô Nguyễn Văn Lựu lên bậc Chân Phước. Vào ngày 19-06-1988 Đức Giáo Hoàng Gioan Phao lô II đã suy tôn cha lên bậc Hiển thánh.

Thứ Ba, 5 tháng 4, 2016

Thứ Năm Tuần II Phục Sinh Ga 3,31-36.

Lời Chúa: Chúa Cha yêu thương người Con và đã giao mọi sự trong tay Người.
Ha-lê-lui-a. Chúa nói: “ Này anh Tô-ma, vì đã thấy Thầy nên anh mới tin. Phúc thay những người không thấy mà tin. Ha-lê-lui-a.
Chúa gần gũi những tấm lòng tan vỡ,
cứu những tâm thần thất vọng ê chề.
Người công chính gặp nhiều nỗi gian truân,

nhưng Chúa giúp họ luôn thoát khỏi.

Ngày 07/04 – Thánh Gioan Lasan, Linh mục (1651-1719)
Hoàn toàn vâng theo Ý Chúa vì ngài bị chi phối bởi cuộc đời thánh Gioan Baotixita SalêNăm 1950, ĐGH Piô XII đặt ngài làm bổn mạng các giáo viên vì ngài nỗ lực cải cách việc dạy họcNgài sinh tại Pháp, ngài có nhiều thuận lợinăng khiếu học giỏiđiển traigia đình quý tộccó tiềnđược giáo dục đàng hoàngLúc 11 tuổingài chịu phép cắt tóc (tonsure) và học làm linh mụcngài thụ phong linh mục lúc 27 tuổiNgài có vẻ gặp nhiều thuận lợi và xứng đáng giữ chức vụ cao trong giáo hội.
Nhưng Thiên Chúa có kế hoạch riêng cho ngàidần dần cho ngài biết trong vài năm kế tiếpTrong dịp gặp M. Nyel  Raven, ngài quan tâm việc mở trường cho trẻ em nghèo ở Raven. Mặc dù công việc làm ngài rất không hài lòngngài vẫn quan tâm hoạt động với những thanh thiếu niên nghèo khổ. Ngài tin đó là sứ vụ Chúa traongài dành hết tâm lực cho công việctừ giã gia đìnhtừ bỏ cương vị giáo sĩ tại Rheims, cho đi hết tài sản và sống nghèo như những người mà ngài dành hết cuộc đời cho họCuộc đời của ngài gắn chặt với cộng đoàn mà ngài thành lậpdòng Huynh đệ Kitô (the Brothers of the Christian SchoolChristian Brothers, hoặc De La Salle Brothers – thường gọi tắt là dòng La San). Cộng đoàn này phát triển nhanh và thành công trong việc giáo dục các em trai con nhà nghèo bằng phương pháp giáo dục do ngài biên soạnđào tạo giáo viên tại trường sư phạm, mở các nhà và trường cho cho các thiếu niên hư hỏng con nhà giàuYếu tố kích thích trong các nỗ lực này là trở thành các Kitô hữu tốt.
Dù thành côngngài vẫn không thoát khỏi nhiều thử tháchthất bại đau lòng và việc bỏ trốn của các đệ tửbị chống đối dữ dội từ các giáo viên đời, bị họ tức giận vì phương pháp mới của ngài đạt hiệu quả và bị phái Jansen (Tà thuyết Nestorianism (giữa thế kỷ 4-5) cho rằng có hai con người riêng biệt trong Chúa Giêsu, một con người và một Thiên Chúa) chống đối kịch liệtcả đời thánh Gioan chống lại tà thuyết của họ. Ngài khổ sở vì bệnh hen suyễn và thấp khớp trong những năm cuối đờingài qua đời ngày thứ Sáu Tuần Thánh, thọ 68 tuổi, và được phong thánh năm 1900.

Thứ Tư Tuần II Phục Sinh Ga 3,16-21.

Lời Chúa: Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ.
Ha-lê-lui-a: Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì được sống muôn đời. Ha-lê-lui-a.
Sứ thần của Chúa đóng trại chung quanh
Để giải thoát những ai kính sợ Người.
Hãy nghiệm xem Chúa tốt lành biết mấy:

Hạnh phúc thay kẻ ẩn náu bên Người.

Ngày 06/04 – Thánh Crescentia Hoess (1682-1744)
Crescentia sinh năm 1682 tại một thành phố nhỏ gần Augsburg,con gái của một gia đình thợ dệt nghèoBà dành thời gian chơi đùa để cầu nguyện trong nhà thờgiúp đỡ những người nghèo khó hơn mình và tìm hiểu về đạo. Bà được rước lễ lần đầu lúc 7 tuổiTrong thành phố, bà được gọi là “thiên thần nhỏ”.
Lớn lên, bà muốn vào dòng nữ PhanxicôNhưng vì nhà dòng nghèo và vì bà không có của hồi mônbề trên từ chốiTrường hợp của bà được bào chữa nhờ một thị trưởng Tin lành nên nhà dòng được ân huệNhà dòng cảm thấy phải nhận bà vào dòngvà cuộc sống mới của bà là nghèo khóBà bị coi là gánh nặng và không được làm gì khác ngoài việc hầu bànTính vui vẻ của bà lại bị hiểu sai là nịnh bợ hoặc giả hình.
Sau 4 năm, tình trạng cải thiện hơn khi có bề trên mới và ngài nhận ra nhân đức củaCrescentia. Bà được bổ nhiệm làm giáo tập (mistress of novices)Bà được chị em yêu quý và kính phục, nên khi bề trên qua đờibà được chọn kế vịNhờ tình trạng tài chính của nhà dòng được cải thiện và danh tiếng của bà về các vấn đề tâm linh lan truyền rộng rãiBà được các hoàng tử và công chúa tham vấn, kể cả các giám mục và hồng y cũng đến nhờ bà tư vấnNhưng bà vẫn khiêm nhường là một nữ tu Phanxicô.
Cơ thể bà luôn đau nhứcMới đầu là nhức đầu, sau đó là nhức răngRồi bà không đi lại đượctay chân bà becomi tê cứng đến nỗi còng lưngTheo tinh thần của thánh Phanxicô, bà vui mừng kêu lên: “Toàn thân tôi hãy ngợi khen Chúa vì Ngài đã ban cho sức chịu đựng”. Dù đau đớn, bà vẫn bình an và vui vẻ. Bà qua đời vào Chúa nhật Phục sinh năm 1744. Bà được phong chân phước năm 1900 và được ĐGH Gioan-Phaolô II phong thánh năm 2001.

Thứ Hai, 4 tháng 4, 2016

Thứ Ba Tuần II Phục Sinh Ga 3,7b-15.

Lời Chúa: Không ai lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống.
Ha-lê-lui-a: Con Người sẽ phải được giương cao, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời. Ha-lê-lui-a.
Lạy Chúa, thánh chỉ Ngài thật là bền vững,
nơi đền vàng rực lên toàn thánh thiện

triền miên qua mọi thời.

Ngày 05/04 – Thánh Vincentê Ferriô, Linh mục (1350?-1419)
Động thái phân biệt trong giáo hội ngày nay chỉ là “cơn gió thoảng” so với “cơn lốc xoáy” phá tan giáo hội trong thời thánh Vincentê Ferriô. Nếu có vị thánh nào là thánh bổn mạng hòa giải thì đó là thánh Vincentê Ferriô.
Mặc dù bị cha mẹ ngăn cản, ngài vẫn vào dòng Đa Minh tại Tây Ban Nha lúc 19 tuổi. Sau khi học hành xuất sắc, ngài được ĐHY Peter de Luna phong chức linh mục. Với bản chất nhiệt thành, ngài ngài hăng hái sống khổ hạnh theo luật dòng. Sau khi thụ phong linh mục không lâu, ngài được bầu làm bề trên dòng ở Valencia.
Cuộc ly giáo Tây phương đã phân chia Kitô giáo thành 2 phe, rồi 3 phe, có các giáo hoàng. Giáo hoàng Clêmentô VII ở Avignon (Pháp), giáo hoàng Urbanô VI ở Rôma. Vincentê tin rằng việc bầu chọn giáo hoàng Urbanô là vô hiệu (thánh Catarina Siena chỉ ủng hộ giáo hoàng ở Rôma). Vâng lời ĐHY de Luna, ngài thuyết phục người Tây Ban Nha theo giáo hoàng Clêmentô. Khi giáo hoàng Clêmentô qua đời, Hồng y de Luna được bầu chọn tạiAvignon và trở thành giáo hoàng Bênêđictô XIII.
Vincentê là thầy dạy của Tòa thánh. Nhưng giáo hoàng mới không từ chức tại mật nghị (conclave) như đã thề hứa. Ngài vẫn nhất quyết dù vua nước Pháp và đa số hồng y phản đối. Ngài thất vọng và bị bệnh nặng, nhưng cuối cùng ngài “đi khắp thế gian giảng về Chúa Kitô”, dù ngài cảm thấy có sự canh tân nào đó trong giáo hội tùy thuộc vào việc hàn gắn cuộc ly giáo. Ngài giảng sôi nổi và lưu loát, ngài dành 20 năm cuối đời đi loan truyền Tân ước khắp Tây Ban Nha, Pháp, Thụy Sĩ, các nước nhược tiểu và Lombardy, nhấn mạnh nhu cầu sám hối và sợ phán xét. Ngài nổi tiếng là Thiên thần Xét xử (Angel of the Judgment).
Những năm 1408 tới 1415, ngài cố gắng thuyết phục người bạn cũ từ chức nhưng không thành công. Cuối cùng ngài kết luận rằng Bênêđictô không là giáo hoàng thật. Dù rất bệnh, ngài vẫn lên bục giảng trước một hội nghị mà giáo hoàng Bênêđictô XIII chủ tọa và lớn tiếng tố cáo chính người đã truyền chức linh mục cho ngài. Bênêđictô XIII trốn mất vĩnh viễn, những người trước theo nay cũng bỏ. Lạ thay, Vincentê không tham dự Công đồngConstance – Công đồng này chấm dứt cuộc ly giáo đã kéo dài 36 năm. Lúc đó, giáo hội có ĐGH Martin V. Ngài qua đời ngày 05/04/1419.

Thứ Bảy, 2 tháng 4, 2016

Thứ Hai Lễ Truyền Tin Lễ trọng.

Lời Chúa: Này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai.
TUNG HÔ TIN MỪNG: Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta. Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người.
Đức công chính của Ngài,
con loan truyền giữa lòng đại hội;
lạy Chúa, Ngài từng biết:

con đâu có ngậm miệng làm thinh.

Ngày 04/04 – Thánh Isiđôrô Seville, Giám mục Tiến sĩ (560?-636)
Cuộc đời 76 năm của thánh Isiđôrô là thời gian xung đột và phát triển đối với giáo hội tại Tây Ban Nha. Người Visigoth đã xâm lăng suốt 150 năm, họ đã lập thủ đô ngay trước khi thánh nhân sinh ra. Họ là những người theo tà thuyết Arian (không tin Chúa Kitô là Thiên Chúa). Do đó, Tây Ban Nha bị phạn chia làm đôi: Một bên là những người theo Công giáo La mã chiến đấu chống lại bên kia là những người Gô-tích theo tà thuyết Arian (Arian Goths).
Isiđôrô đã thống nhất Tây Ban Nha, làm cho nước này trở thành trung tâm văn hóa và học tập, là thầy dạy và là người hướng dẫn các nước thuộc Âu châu có nền văn hóa bị những kẻ xâm lăng man rợ đe dọa.
Ngài sinh tại Cartagena, trong một gia đình có 3 vị thánh, ngài được người anh nghiêm khắc giáo dục, người anh này cũ trở thành giám mục giáo phận Seville.
Ngài là người giỏi cực kỳ, đôi khi người ta gọi ngài là “Hiệu trưởng thời Trung cổ” (The Schoolmaster of the Middle Ages), vì bộ bách khoa ngài viết được dùng làm sách giáo khoa suốt 9 thế kỷ. Ngài cho xây chủng viện ở mỗi giáo phận, soạn tu luật cho các nhà dòng và mở trường học dạy các môn. Ngài viết nhiều sách, kể cả  một tự điển, một bộ bách khoa toàn thư, một sách lịch sử Gô-tích và một sách lịch sử thế giới – bắt đầu bằng sự tạo thành! Ngài hoàn tất phụng vụ Mozarabic, vẫn được dùng ở Toledo, Tây Ban Nha. Vì các lẽ đó mà ngài (và vài vị thánh khác) được coi là thánh bổn mạng của internet.
Ngài tiếp tục sống khổ hạnh dù đã ngoài 70 tuổi. Trong 6 tháng cuối đời, ngài gia tăng làm việc bác ái nhiều đến độ nhà của ngài đầy người nghèo từ sáng tới khuya.

Chúa Nhật II Phục Sinh Năm C Lòng Thương Xót Chúa.

Lời Chúa: Tám ngày sau, Đức Giê-su đến.
       Vào chiều ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do-thái. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói: "Bình an cho anh em!" Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. Người lại nói với các ông: "Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em." Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: "Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ."
      Một người trong Nhóm Mười Hai, tên là Tô-ma, cũng gọi là Đi-đy-mô, không ở với các ông khi Đức Giê-su đến. Các môn đệ khác nói với ông: "Chúng tôi đã được thấy Chúa!" Ông Tô-ma đáp: "Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin." Tám ngày sau, các môn đệ Đức Giê-su lại có mặt trong nhà, có cả ông Tô-ma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói: "Bình an cho anh em!" Rồi Người bảo ông Tô-ma: "Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin." Ông Tô-ma thưa Người: "Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!" Đức Giê-su bảo: "Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!"

     Đức Giê-su đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ; nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong sách này. Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người.

SUY NIỆM & CẦU NGUYỆN
       Bài Tin Mừng hôm nay cho chúng ta thấy Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ trong một căn phòng đóng kín vì sợ người Do-thái. Thân xác vinh quang của Chúa tựa hồ như một luồng ánh sáng chiếu qua những khung cửa kính. Để củng cố niềm tin, Chúa cho các ông xem những vết thương trên tay chân của Người khiến cho các ông hết sức vui mừng. Rồi Chúa nói với các ông: Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con. Điều đó có nghĩa là: Chúa Cha đã sai Người đến trong thế gian để cứu chuộc nhân loại, thì Chúa Giêsu cũng sai các ông đi để đem lại ánh sáng và sức mạnh của Tin Mừng mà cứu rỗi nhân loại.
     Lòng thương xót của Chúa trải qua từ đời nọ đến đời kia, điều vô cùng quan trọng là Chúa Giêsu trao quyền tháo cởi và cầm giữ cho các tông đồ. Để các ông nhận lãnh ơn chữa lành và thực hành các phép lạ để đặt nền móng cho Giáo Hội sơ khai, cũng là chìa khoá của sự tháo cởi và cầm buộc được lưu truyền qua muôn ngàn thế hệ.
     Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, nhưng lời Chúa đã nói: “ Phúc cho những ai không thấy mà tin.” Là kim chỉ nam cho cuộc sống hôm nay để chúng con luôn ý thức sự hiện diện của Chúa, nhờ đó Đức tin của chúng con mỗi ngày được mạnh mẽ và sốt sắn hơn. Amen

Ngày 03/04 – Thánh Bênêđictô, người Phi châu (1526-1589)
Bênêđictô giữ những cương vị quan trọng trong dòng Phanxicô và khéo léo thích nghi với công việc khác khi hết nhiệm kỳ. Cha mẹ ngài bị bán làm nô lệ ở Messina, Sicily. Được trả tự do lúc 18 tuổi, Bênêđictô làm nông nghiệp để có lương và đủ tiền mua cặp bò. Ngài rất hảnh diện với cặp bò này. Khi sống với nhóm ẩn tu tại Palermo, ngài được đề cử làm lãnh đạo. Vì nhóm ẩn tu này sống theo tu luật của Thánh Phanxicô Khó nghèo, ĐGH Piô IV truyền cho họ gia nhập Dòng Nhất. Bênêđictô làm giáo tập (novice master) và rồi là quản lý dòng ở Palermo – các vị trí này thời đó hiếm khi được giao cho một tu sĩ. Thật vậy, Bênêđictô buộc phải chấp nhận việc bầu cử mình làm quản lý. Khi hết nhiệm kỳ, ngài vui mừng được trở lại làm bếp. Bênêđictô sửa lỗi anh em với lòng khiêm ngường và bác ái. Có lần ngài sửa lỗi một tập sinh và giao làm việc đền tội và rồi biết rằng tập sinh đó không phạm lỗi.
Ngài lập tức quỳ trước mặt tập sinh đó và xin tha thứ.
Cuối đời, Bênêđictô không sở hữu thứ gì cho mình dùng. Ngài không bao giờ nói là “của tôi” mà luôn nói là “của chúng ta”. Ngài có tiếng là chuyên cần cầu nguyện và có biệt tài hướng dẫn các linh hồn khiến khắp vùng Sicily đều biết sự thánh thiện của ngài. Theo gương thánh Phanxicô Assisi, Bênêđictô ăn chay quanh năm, mỗi đêm chỉ ngủ vài giờ. Trong dòng Phanxicô thời đó, cương vị lãnh đạo được hạn chế về thời gian. Khi hết nhiệm kỳ, các cựu lãnh đạo đôi khi gặp khó khăn để thích nghi với vị trí mới. Giáo hội cần các nam nữ tu sĩ sẵn sàng cố gắng trong cương vị lãnh đạo – nhưng họ lại không sẵn sàng ở cương vị khác khi mãn nhiệm kỳ lãnh đạo. Sau khi ngài qua đời, vua Philip III của Tây Ban Nha xây cho ngài một ngôi mộ đặc biệt. Ngài được phong thánh năm 1807, và được người Mỹ gốc Phi tôn kính là thánh bổn mạng.
Chúa Giêsu nói: “Tôi đến để phục vụ chứ không để được phục vụ” (x. Mt 20:28). Thánh Phanxicô Assisi viết trong Lời Khuyên IV (Admonition IV): “Những người được đặt trên những người khác nên vinh dự làm việc đó chỉ khi nào họ nhận trách nhiệm rửa chân cho anh em. Họ càng buồn vì mất chức vụ thì họ càng mất nhiệm vụ rửa chân, và họ càng tích lũy kho tàng những mối hiểm họa cho linh hồn" (x. Ga 12:6).

Thứ Sáu, 1 tháng 4, 2016

Thứ Bảy Trong Tuần Bát Nhật Phục Sinh Mc 16,9-15.

Lời Chúa: Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo.
Ha-lê-lui-a: Đây là ngày chúa đã làm ra, nào ta hãy vui mừng hoan hỷ. Halêluia
Xin mở cửa công chính cho tôi
để tôi vào tạ ơn Đức Chúa.
Đây là cửa dẫn vào nơi Chúa ngự,
chỉ những người công chính mới được qua.
Lạy Chúa, con xin tạ ơn Ngài

vì đã đáp lời con và thương cứu độ.

Ngày 02/04 – Thánh Phanxicô Paola, Ẩn tu (1416-1507)
Phanxicô sinh tại Paola, Calabria (Ý), và được học tại dòng Phanxicô ở San Marco (Thánh Mác-cô). Cha mẹ ngài có tiếng là đạo đức, ngài sống ẩn dật tại Paola từ khi 15 tuổi. Năm 1436, ngài cùng hai người bạn lập cộng đoàn được coi là nền tảng của dòng Minim (Minim Friars). Ngài xây một tu viện và sống ẩn tu ở đây khoảng 15 năm. Ngài soạn luật dòng chú trọng việc hành xác, bác ái và khiêm nhường, đồng thời thêm 3 lời khấn dòng, có lời khấn ăn chay và kiêng thịt. Ngài còn viết luật dòng ba và dòng nữ.
Ngài được tin là làm nhiều phép lạ, nói tiên tri và thấu hiểu lòng người. Dòng được ĐGH Sixtô IV phê chuẩn năm 1474 với tên gọi là Dòng Ẩn tu Thánh Phanxicô Assisi (năm 1492 đổi thành Dòng Minim). Phanxicô các cơ sở ở Nam Ý và Sicily, danh tiếng ngài được biết đến nhiều đến nỗi Vua Louis XI của Pháp quốc cho mời ngài vì lúc đó nhà vua đang thập tử nhất sinh, ĐGH Sixtô II truyền cho ngài sang Pháp, nhà vua cảm thấy mình được Phanxicô chữa khỏi. Nhà vua không khỏi, nhưng vẫn vui mừng, chính hoàng tử của vua Louis XI, sau là vua Charles VIII, trở thành bạn của Phanxicô và tài trợ cho Phanxicô xây vài tu viện. Phanxicô sống phần đời còn lại tại tu viện Plessis, Pháp, nơi mà vua Charles VIII xây cho ngài. Phanxicô qua đời ngày 2/4/1507 và được phong thánh năm 1519.