Thứ Hai, 7 tháng 3, 2016

Thứ Ba Tuần IV Mùa Chay Ga 5,1-3a.5-16.

Lời Chúa: Người ấy liền được khỏi bệnh.
TUNG HÔ TIN MỪNG: Lạy Chúa Trời, xin tạo cho một tấm lòng trong tắng, xin ban lại cho con niềm vui vì được Ngài cứu độ.
Chính Chúa Tể càn khôn ở cùng ta luôn mãi,
Thiên chúa nhà Gia-cóp là thành bảo vệ ta.
Đến mà xem công trình của Chúa,

Đấng gieo kinh hãi trên mặt địa cầu.

Ngày 08/03 – Thánh Gioan Thiên Chúa, Tu sĩ (1495-1550)
Đã từng bỏ đức tin Kitô giáo khi còn là người lính, Gioan đã 40 tuổi mới quyết định dành phần đời còn lại để phục vụ Thiên Chúa, và ngài liền đi Phi châu với hy vọng ở đó ngài sẽ giải thoát những Kitô hữu bị bắt bớ, và có thể được tử đạo.
Ngài được khuyên rằng ước muốn tử đạo của ngài không dựa trên nền tảng tâm linh, ngài trở lại Tây ban nha và và hoạt động bình thường là bán hàng tôn giáo. Nhưng ngài vẫn chưa ổn định. Cảm kích nhờ bài giảng của chân phước Gioan Avila, ngài hành xác, xin ơn lành và ăn năn về quãng đời quá khứ của mình.
Vì những hành động đó mà ngài phải vào bệnh viện tâm thần, ngài được chân phước Gioan đến thăm và khuyên nên quan tâm nhu cầu của người khác hơn là chịu khổ một mình. Ngài thấy bình an tâm hồn, không lâu sau ngài ra viện và bắt đầu làm việc giữa những người nghèo.
Ngài mở một bệnh viện để giúp người nghèo. Cảm kích những việc vĩ đại của các thánh và với lòng sùng mộ của ngài, nhiều người bắt đầu đến giúp đỡ ngài. Trong số đó có Tổng giám mục và hầu tước địa phận Tarifa.
Phía sau những mối quan tâm của ngài và lòng thương người nghèo của Chúa Kitô là một đời sống cầu nguyện liên lỉ được phản ánh trong tinh thần khiêm nhường của ngài.
Ngài bị bệnh sau 10 năm phục vụ nhưng vẫn cố gắng giấu tình trạng sức khỏe yếu kém. Ngài hệ thống hóa công việc quản lý bệnh viện và bổ nhiệm người giúp đỡ. Ngài qua đời vì chăm sóc Anne Ossorio, người bạn tâm linh và người ngưỡng mộ ngài. Sau khi ngài qua đời 20 năm, các phẩm chất đó đã thu hút nhiều người giúp đỡ thành lập Dòng Bệnh Viện (Brothers of the Hospitaller Order, Ordo Hospitalis, OH, Dòng Trợ Thế Thánh Gioan Thiên Chúa) mà hiện nay hoạt động khắp thế giới.

Chủ Nhật, 6 tháng 3, 2016

Thứ Hai Tuần IV Mùa Chay Ga 4,43-54.

Lời Chúa: Ông cứ về đi, con ông sống.
TUNG HÔ TIN MỪNG: Hãy tìm điều lành chứ đừng tìm điều dữ, rồi anh em sẽ được sống; và Chúa sẽ ở cùng anh em.
Lạy Chúa, xin lắng nghe và xót thương con,
lạy Chúa, xin phù trì nâng đỡ.
Khúc ai ca, Chúa đổi thành vũ điệu.
Lạy Chúa là Thiên Chúa con thờ,

xin tạ ơn Ngài mãi mãi ngàn thu.

Ngày 07/03 – Các thánh Perpêtua và Phêlicita, Tử đạo (qua đời năm 203?)
“Khi cha tôi yêu thương tôi và cố gắng chuyển hướng mục đích của tôi my purpose bằng cách tranh luận và làm suy yếu niềm tin nơi tôi, tôi nói với ngài: “Cha có thấy chiếc bình này – bình nước hoặc có thể là bất kỳ thứ gì? Nó có thể được gọi bằng tên khác không?”. Cha tôi trả lời: “Không”. “Vậy con cũng không thể có tên khác chính con – một Kitô hữu”.
Thánh Perpêtua, một phụ nữ trẻ đẹp, có giáo dục, nhà quý tộc dòng họ Carthage, mẹ của một cậu con trai và là nhà biên niên sử (chronicler) về cuộc bách đạo của hoàng đế Septimius Severus. Mẹ của Perpêtua có đạo, còn cha thì ngoại đạo. Người cha cứ xin con gái từ bỏ đức tin nhưng Perpêtua từ chối và bị bỏ tù lúc 22 tuổi.
Mặc dù bị hăm dọa hành hạ và giết chết, Perpêtua, Phêlicita (một phụ nữ nô lệ đang mang thai) với 3 người bạn khác là Rêvôcatôs, Sêcunđulô và Saturninô, đều không chịu từ bỏ đức tin. Thế là họ bị đưa vô đấu trường làm trò vui. Ở đó Perpêtua và Phêlicita bị chém đầu, 3 người kia bị thú dữ phanh thây.
Trong nhật ký, Perpêtua mô tả: “Một ngày thật khủng khiếp! Nóng khủng khiếp vì chật người! Bị lính cư xử tồi tệ! Lại khổ nữa, tôi bị dày vò vì lo lắng cho đứa con... Những mối lo lắng như vậy tôi phải chịu đựng nhiều ngày, nhưng tôi được phép cho con ở trong tù với mình, và được bớt lo lắng về con, tôi hồi phục sức khỏe, nhà tù là cung điện tôi ở và tôi nên ở đó hơn bất cứ nơi nào khác”. Vài ngày sau, Phêlicita sinh một bé gái trước khi bị thú dữ giết chết. Nhật ký của Perpêtua về cảnh tù đày hoàn tất ngày hôm trước bị giết chết. “Về những gì thuộc về trò chơi dã man, hãy để họ viết đó là ai”. Nhật ký của Perpêtua được một nhân chứng hoàn tất thêm.

Thứ Sáu, 4 tháng 3, 2016

Chúa Nhật IV Mùa Chay Năm C

Lời Chúa: Em con đây đã chết mà nay lại sống.
       Khi ấy, tất cả những người thu thuế và những người tội lỗi thường đến gần Đức Giê-su mà nghe Người. Còn những người thuộc phái Pha-ri-sêu và các kinh sư thì lẩm bẩm: “Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng.” Đức Giê-su mới kể cho họ dụ ngôn này:
      “Một người kia có hai con trai. Người con thứ nói với cha rằng: "Thưa cha, xin cho con phần tài sản con được hưởng". Và người cha đã chia của cải cho hai con. Ít ngày sau, người con thứ thu góp tất cả rồi trẩy đi phương xa. Ở đó anh ta sống phóng đãng, phung phí tài sản của mình.
       Khi anh ta đã ăn tiêu hết sạch, thì lại xảy ra trong vùng ấy một nạn đói khủng khiếp. Và anh ta bắt đầu lâm cảnh túng thiếu, nên phải đi ở cho một người dân trong vùng; người này sai anh ta ra đồng chăn heo. Anh ta ao ước lấy đậu muồng heo ăn mà nhét cho đầy bụng, nhưng chẳng ai cho. Bấy giờ anh ta hồi tâm và tự nhủ: "Biết bao nhiêu người làm công cho cha ta được cơm dư gạo thừa, mà ta ở đây lại chết đói! Thôi, ta đứng lên, đi về cùng cha và thưa với người: "Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa. Xin coi con như một người làm công cho cha vậy". Thế rồi anh ta đứng lên đi về cùng cha.
       "Anh ta còn ở đằng xa, thì người cha đã trông thấy. Ông chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ anh ta và hôn lấy hôn để. Bấy giờ người con nói rằng: “Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa. Nhưng người cha liền bảo các đầy tớ rằng: “Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay, xỏ dép vào chân cậu, rồi đi bắt con bê đã vỗ béo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng! Vì con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy”. Và họ bắt đầu ăn mừng.
       Lúc ấy người con cả của ông đang ở ngoài đồng. Khi anh ta về gần đến nhà, nghe thấy tiếng đàn ca nhảy múa, liền gọi một người đầy tớ ra mà hỏi xem có chuyện gì. Người ấy trả lời: “Em cậu đã về, và cha cậu đã làm thịt con bê béo, vì được lại cậu ấy mạnh khoẻ.” Người anh cả liền nổi giận và không chịu vào nhà. Nhưng cha cậu ra năn nỉ. Cậu trả lời cha: “Cha coi, đã bao nhiêu năm trời con hầu hạ cha, và chẳng khi nào trái lệnh, thế mà chưa bao giờ cha cho lấy được một con dê con để con ăn mừng với bạn bè. Còn thằng con của cha đó, sau khi đã nuốt hết của cải của cha với bọn điếm, nay trở về, thì cha lại giết bê béo ăn mừng!

      Nhưng người cha nói với anh ta: “Con à, lúc nào con cũng ở với cha, tất cả những gì của cha đều là của con. Nhưng chúng ta phải ăn mừng và hoan hỷ, vì em con đây đã chết, mà nay lại sống, đã mất, mà nay lại tìm thấy.”

SUY NIỆM & CẦU NGUYỆN
     Bài Tin Mừng hôm nay kể chuyện đứa con hoang đàng hối hận trở về và được Cha mở rộng vòng tay tha thứ, chúng ta là những đứa con hoang đàng và Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót luôn chờ đón chúng ta trở về để tha thứ và phục hồi tư cách làm con Thiên Chúa và Mùa Chay là một dịp tốt để chúng ta trở về.
    Qua dụ ngôn người cha nhân hậu, Chúa Giêsu đưa ra một thí dụ tuyệt vời, rõ ràng dễ hiểu và nổi tiếng, ai cũng biết cả. Để an ủi để khích lệ người tội lỗi hãy biết suy nghĩ, hãy biết dứt khoát đứng dậy và mạnh dạn tuyên bố: “Tôi muốn trở về với Cha tôi” Chúa Giêsu đưa ra hai người con tiêu biểu cho hai cuộc trở về. Người con út trở về trong tình yêu của cha mình, của mái ấm gia đình. Người con cả cần phải trở về trong tình anh em, phải biết tha thứ cho em mình, phải biết hòa nhập vào niềm vui của gia đình. Người con cả dầu tự hào là luôn sống trung thành với Cha, nhưng nếu khước từ tình anh em. Thì anh vẫn là người ngoài cuộc, anh không vào nhà và không cùng chung hưởng hạnh phúc niềm vui của gia đình mình. Và chúng ta cũng phải biết noi gương người con út nói lên rằng: “Tôi muốn trở về với Cha tôi”.
     Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, xin cho chúng con biết nhìn lại mình, để quyết tâm đứng dậy trở về cùng Chúa. Mỗi một thất bại, mỗi một đau khổ vẫn luôn là một tiếng chuông gọi mời, cảnh tỉnh, nếu chúng con biết tự xét mình và rút tỉa kinh nghiệm, đó sẽ là cơ hội quí báu cho chúng con cảm nghiệm được tình yêu bao la của Chúa.  Amen.

Ngày 06/03 – Tôi tớ Chúa Sylvester Assisi, Linh mục (qua đời năm 1240)
Sylvester là một trong 12 người đầu tiên đi theo thánh Phanxicô Assisi và là linh mục đầu tiên của dòng Phanxicô (Franciscan Order). Là con một gia đình quý tộc, Sylvester có lần đã bán đá Phanxicô (Francis stones), loại dùng để xây nhà thờ. Không lâu sau, khi ngài thấy Phanxicô và Bernarđô Quintavalle phân phát của cải của Bernarđô cho người nghèo, Sylvester than phiền rằng ngài được trả tiền ít về số đá kia và đòi tiền thêm.
Mặc dù Phanxicô buộc phải trả, số tiền nhận từ thánh Phanxicô đã khiến Sylvester cảm thấy có lỗi. Ngài bán tất cả tài sản, bắt đầu sống đền tội rồi theo thánh Phanxicô và những người khác. Sylvester trở thành người thánh thiện và chuyên chăm cầu nguyện, và là người được thánh Phanxicô yêu quý – đồng hành với thánh Phanxicô trên các cuộc hành trình, và là cố vấn của thánh Phanxicô. Sylvester và Clara trả lời thánh Phanxicô bằng sự đáp lại rằng sẽ phụng sự Thiên Chúa bằng cách đi truyền giáo hơn là chỉ cầu nguyện.
Có lần tại một thành phố nọ, nơi có nội chiến, thánh Sylvester được thánh Phanxicô sai đi trừ quỷ. Tại cửa ngõ thành phố, thánh Sylvester kêu lớn: “Nhân danh Thiên Chúa toàn năng và nhờ nhân đức của tôi
tớ Chúa là Phanxicô, các tà thần hãy ra khỏi đây”. Quỷ dữ đi khỏi và thành phố an bình trở lại. Sau khi thánh Phanxicô qua đời, thánh Sylvester sống thêm 14 năm nữa, thi hài ngài được an táng gần mộ thánh Phanxicô tại Đại giáo đường thánh Phanxicô Assisi.

Thứ Bảy Tuần III Mùa Chay Lc 18,9-14.

Lời Chúa: Người thu thuế khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính, còn người Pha-ri-siêu thì không.
TUNG HÔ TIN MỪNG: Ngày hôm nay, anh em chớ cứ lòng, nhưng hãy nghe tiếng Chúa.
Xin rộng lòng tuôn đổ hồng phúc xuống Xi-on,
thành lũy Giê-ru-sa-lem, xin Ngài xây dựng lại.
Bấy giờ Ngài vui nhận tế phẩm luật truyền,

lễ vật toàn thiêu, lễ vật hiến tế.

Ngày 05/03 – Thánh Gioan Giuse Thánh giá, Linh mục (1654-1734)
Việc hãm mình ép xác (self-denial) không bao giờ hết mà còn giúp đạt tới sự bác ái lớn lao hơn – như cuộc đời của thánh Gioan Giuse đã chứng tỏ.
Ngài là người sống khắc khổ ngay khi còn trẻ. Lúc 16 tuổi, ngài gia nhập dòng Phanxicô ở Naples; ngài là người Ý đầu tiên theo phong trào cải cách của thánh Phêrô Alcantara. Tiếng tăm thánh thiện của ngài đã thúc đẩy các bề trên của ngài giao cho ngài trọng trách thành lập tu viện mới trước khi ngài được thụ phong linh mục.
Đức vâng lời khiến ngài chấp nhận chức giáo tập (novice master), quản lý và giám tỉnh (provincial). Thời gian ngài hành xác khiến ngài có thể phục vụ các tu sĩ với lòng bác ái. Làm quản lý, ngài vẫn làm việc ở nhà bếp hoặc lấy củi và nước cho các tu sĩ cần.
Khi hết nhiệm kỳ giám tỉnh, ngài dành thời gian giải tội và hành xác, hai mối bận tâm ngược với tinh thần của hồi đầu Thời kỳ Khai sáng (Age of Enlightenment, thế kỷ 18). Ngài được phong thánh năm 1839.

Thứ Tư, 2 tháng 3, 2016

Thứ Sáu Tuần III Mùa Chay Mc 12,28b-34.

Lời Chúa: Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta là Đức Chúa duy nhất; ngươi phải yêu mến Người.
TUNG HÔ TIN MỪNG: Chúa nói: Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần.
Ôi dân Ta mà đã nghe lời,
Ít-ra-en chịu theo đường Ta chỉ,
Ta sẽ nuôi bằng lúa mì tinh hảo,

mật ông rừng, Ta cho hưởng thỏa thuê.

Ngày 04/03 – Thánh Casimirô (1458-1483)
Casimirô sinh trong hoàng tộc, là con thứ 3 trong 13 người con, tương lai sẽ là vua. Ngài có nhiều điểm đặc biệt và được học với đại sư John Dlugosz. Ngay cả những bài phê bình của ngài cũng không thể nói rằng sự phản đối chu đáo có sự mềm mỏng. Dù còn ở độ tuổi thiếu niên, Casimirô sống rất có quy tắc, thậm chí là nghiêm nhặt, ngủ trên nền nhà, dành nhiều thời gian ban đêm để cầu nguyện và sống độc thân suốt đời.
Khi các nhà quý tộc ở Hungary bằng lòng về vua của họ, họ thắng thế hơn cha của Casimirô, vua Ba Lan, để gởi con trai ông đảm trách đất nước. Casimirô vâng lời cha, như nhiều thanh niên khác qua nhiều thế kỷ tuân lệnh quyền họ. Quân đội ngài hướng dẫn bị “quân thù” áp đảo, một số binh sĩ bỏ hàng ngũ vì họ không được trả lương. Theo lởi khuyên của các quan chức, Casimirô trở về quê hương. Cha ngài phiền lòng trước thất bại đó, và giam con trai 3 tháng, lúc đó Casimirô mới 15 tuổi. Casimirô quyết định không bao giờ dính líu tới chiến tranh và không ai có thể thuyết phục ngài. Ngài trở lại với việc cầu nguyện và học tập, vẫn quyết sống độc thân dù bị bắt phải kết hôn với con gái của hoàng đế. Ngài cai trị Ba Lan trong khi vắng mặt cha. Ngài qua đời vì bệnh phổi lúc 25 tuổi trong khi đang thăm Lithuania, nơi mà ngài được coi là Công tước Vĩ đại (Grand Duke). Ngài được an táng tại Vilnius, thuộc Lithuania.

Thứ Năm Tuần III Mùa Chay Lc 11,14-23.

Lời Chúa: Ai không đi với tôi là chống lại tôi.
TUNG HÔ TIN MỪNG: Đức Chúa phán: Ngay lúc này, các ngươi hãy hết lòng trở về với Ta, bởi vì Ta từ bi nhân hậu.
Ngày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa !
Người phán: Các ngươi chớ cứng lòng
như tại Mê-ri-ba, như ngày ở Ma-xa trong sa mạc
nơi tổ phụ các ngươi đã từng thách thức

và dám thử thách Ta, dù đã thấy những việc Ta làm.

Ngày 03/03 – Thánh Katharine Drexel, Tu sĩ (1858-1955)
Còn được biết đến với tên Catherine Marie Drexel. Nếu cha bạn làm ngân hàng quốc tế và bạn đi xe riêng hẳn bạn sẽ không thể sống khó nghèo tự nguyện. Nhưng nếu mẹ bạn mở cửa cho người nghèo trú ngụ mỗi tuần 3 ngày và cha bạn dành mỗi tối 30 phút để cầu nguyện thì bạn không thể không dành đới mình cho người nghèo và cho đi hằng triệu đô-la. Katharine Drexel đã làm điều đó.
Bà sinh ngày 26/11/1858 tại Philadelphia, Pennsylvania, Hoa kỳ. Bà học nhiều và đi nhiều. Là con gái nhà giàu, bà có dịp giao tiếp xã hội sớm. Nhưng khi bà chăm sóc người mẹ kế bệnh 3 năm, bà thấy tất cả tiền bạc nhà Drexel cũng không thể mua sự an toàn để khỏi bị bệnh và chết, và cuộc đời bà có bước ngoặt sâu xa.
Bà luôn quan tâm cảnh khó khăn của dân Ấn độ, bà hoảng sợ khi đọc cuốn Một Thế kỷ Ô nhục (A Century of Dishonor) của Helen Hunt Jackson. Trên đường du lịch Âu châu, bà gặp ĐGH Leo XIII và xin ngài gởi thêm các nhà truyền giáo tới Wyoming cho ĐGM James O’Connor, bạn của bà. ĐGH trả lời: “Tại sao chị không trở thành nhà truyền giáo?”. Câu hỏi của ngài làm bà suy nghĩ.
Về nhà, bà đến thăm Dakotas, gặp người lãnh đạo Sioux của hội Red Cloud và là người giúp bà truyền giáo cho Ấn độ. Bà có thể dễ dàng kết hôn, nhưng sau khi thảo luận với ĐGM O’Connor, như bà viết năm 1889: “Lễ thánh Giuse ban cho tôi hồng ân dành phần đời còn lại cho dân Ấn độ và người da màu”. Các tiêu đề báo chí kêu gọi: “Hãy bỏ ra bảy triệu!” (Gives Up Seven Million!).
Sau 3 năm rưỡi tập luyện, bà và nhóm nữ tu Dòng Thánh Thể cho dân Ấn độ và Da màu (Sisters of the Blessed Sacrament for Indians and Colored) mở trường nội trú ở Santa Fe. Sau đó nhiều cơ sở khác được mở. Năm 1942, bà có hệ thống trường Công giáo cho người da đen ở 13 tỉnh, cộng với 40 trung tâm truyền giáo và 23 trường học ở vùng quê. Những người phân biệt chủng tộc luôn quấy rầy công việc của bà, thậm chí còn đốt trường ở Pennsylvania. Cuối cùng, bà vẫn thành lập được 50 nơi truyền giáo ở 16 tỉnh. Bà được Mẹ Cabrini khuyên về việc xin Rôma chuẩn Luật Dòng (Order’s Rule). Thành công của bà là nền tảng của ĐH Xaviê ở New Orleans, trường ĐH đầu tiên ở Mỹ dành cho người da đen.
Lúc 77 tuổi, bà bị bệnh tim và phải nghỉ hưu. Rõ ràng cuộc đời bà đã hết. Nhưng sau gần 20 năm lặng lẽ, những cuốn sách nhỏ của bà và những tờ rơi ghi lời cầu nguyện của bà không ngừng gợi hứng suy niệm. Bà qua đời ngày 3/3/1955 tại nhà mẹ Dòng Nữ tu Thánh Thể, thọ 96 tuổi. Hài cốt bà đặt tại nhà mẹ và được công nhận là Hài cốt Quốc gia (National Shrine) năm 2008. Ngài được ĐGH Gioan-Phaolô II tôn là bậc đáng kính ngày 26/1/1987, phong chân phước ngày 20/11/1988, và phong thánh ngày1/10/2000 tại Rôma.

Thứ Ba, 1 tháng 3, 2016

Thứ Tư Tuần III Mùa Chay Mt 5,17-19.

Lời Chúa: Ai tuân hành và dạy làm như thế, thì sẽ được gọi là kẻ lớn trong Nước Trời.
TUNG HÔ TIN MỪNG: Lạy Chúa, Lời Chúa là thần khí và là sự sống. Chúa mới có những lời đem lại sự sống đời đời.
Chúa bài tỏ lời Người cho nhà Gia-cóp,
chiếu chỉ luật điều cho Ít-ra-en.
Chúa không đối xử với dân nào như vậy,

không cho họ biết những điều luật của Người.

Ngày 02/03 – Thánh Anê Bôhêmia (1205-1282)
Anê không có con riêng nhưng nhưng đã tạo sự sống cho những người biết bà. Anê là con gái của nữ hoàng Constance và hoàng đế Ottokar I ở Bôhêmia. Lúc 3 tuổi, Anê đính hôn với công tước vùng Silesia, 3 năm sau thì công tước này chết. Khi lớn lên, Anê muốn đi tu.
Sau khi những cuộc hôn nhân bất thành với vua Henry VII của Đức và vua Henry III của Anh, Anê lại được vua Frederick II của đế quốc Rôma cầu hôn. Bà đệ đơn lên ĐGH Grêgôriô IX xin giúp đỡ. ĐGH bị thuyết phục. Frederick hào hiệp nói rằng không thể xúc phạm nếu Anê đã yêu mến Thiên Vương hơn ông.
Sau khi xây bệnh viện cho người nghèo và nhà dòng cho các tu sĩ, bà tài trợ xây dựng Tu viện Thánh Clara Người nghèo (Poor Clare monastery) ở Prague. Năm 1236, bà và 7 phụ nữ quý tộc khác gia nhập dòng này. Thánh Clara gởi 5 chị em từ San Damiano đến tu với họ, và viết cho Anê 4 lá thư khuyên bà về vẻ đẹp của ơn thiên triệu và trao trọng trách nữ viện trưởng.
Anê nổi tiếng về cầu nguyện, vâng lời và hành xác. ĐGH buộc bà phải chấp nhận làm nữ viện trưởng. Do đó, danh hiệu bà thích là “chị lớn” (senior sister). Chức vụ không ngăn cản bà làm bếp cho các chị em khác và sửa quần áo cho người phong cùi. Các nữ tu thấy bà nhân hậu nhưng rất nghiêm túc việc chăm sóc người nghèo. Bà từ chối đề nghị của anh bà là muốn lập quỹ cho tu viện. Ngài qua đời ngày 06/03/1282, sau đó nhiều người sùng kính ngài. Ngài được phong thánh năm 1989.