Thứ Bảy, 5 tháng 12, 2015

Ngày 6-12-1832-1861 Thánh Giuse Nguyễn Duy Khang Thầy giảng dòng Đaminh Tử đạo.

Giuse Nguyễn Duy Khang, thầy giảng, Dòng Ba Ða Minh; sanh 1832 tại Trà Vi, Nam-Ðịnh; chết ngày 06 tháng 12 năm 1861, tại Hải Dương. Thánh Khang là người giúp việc cho Ðức Cha Hermosilla. Trong khi cố gắng cứu chủ thoát ngục, ngài bị bắt, bị trừng phạt 120 roi. Sau nhiều lần bị tra tấn, ngài bị xử trảm (chém đầu). Phong Á Thánh 1906

Thánh Giuse Nguyễn Duy Khang Thầy giảng Tử đạo
* Một môn sinh trung thành.
Thánh Giuse Nguyễn Duy Khang được các tín hữu Việt Nam tôn kính trong số bốn thánh tử đạo Hải Dương. Tuy thánh nhân tử đạo sau hơn một tháng, nhưng vẫn được chung vinh dự với linh mục Almate Bình, hai Giám mục Valentinô Vinh và Hemosilla Liêm, vì đã cùng đồng lao khổ với ba vị huynh trưởng đó trong dòng Đaminh. Là người trợ tá của Giám mục Hemosilla Liêm, thầy Giuse Khang đã theo sát gương cha chung của giáo phận Đông Đàng Ngoài trong những ngày lưu lạc. Rồi khi quân lính vây bắt Đức cha thì với nhiệt tâm của thánh Phêrô tông đồ xưa trong vườn cây dầu, thầy định dùng võ lực để chống cự. Nhưng sau cùng, thầy đã nghe lời của vị mà mình muốn bảo vệ. Thầy chấp nhận bị bắt để làm chứng cho điều cao thượng hơn : Làm chứng cho tình thương, cho lòng nhân ái và thứ tha của Tin Mừng.
* Một tu sĩ đạo đức.
Giuse Nguyễn Duy Khang chào đời năm 1832, tại Cao mại, xã Trà Vi, huyện Vũ Tiên, phủ Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Cha mẹ cậu là những giáo hữu đạo đức, hướng dẫn các con vào đời sống đạo ngày từ nhỏ. Nhưng cha cậu đã sớm qua đời, cậu được mẹ săm sóc tận tình. Bà lo niệu cho cậu được học hành, gợi cho cậu ý muốn hiến dâng đời mình cho Thiên Chúa và gởi cậu vào nhà Đức Chúa Trời giúp việc cho cha Matthêu Năng dòng Đaminh.
Sau mười năm sống với vị linh mục lão thành thánh thiện này, cậu Giuse Khang được cha gửi vào chủng viện Kẻ Mốt để học tiếng Latinh, chuẩn bị cho sứ vụ linh mục tương lai. Giai đoạn này thầy Giuse Khang xin gia nhập dòng ba Đaminh, và được anh em tín nhiệm bầu làm trưởng tràng điều hành mọi công việc trong nhà như lao động, nấu ăn, liên lạc với các bề trên. Mặc dù bận rộn, thầy Khang vẫn nêu gương sáng cho anh em trong việc học hành và kỷ luật. Những ai đã tiếp xúc với thầy đều nói thầy đạo đức, có tính cương trực, nhưng lại luôn luôn hòa nhã với hết thảy mọi người. Khi đó, Đức cha Hemosilla Liêm cũng ở Kẻ Mốt đã tín nhiệm thầy cách đặc biệt và chọn thầy làm người phụ tá riêng. Thầy Khang vui vẻ phục vụ Đức cha cách tận tình : từ việc dọn bàn thờ, sắp xếp các hồ sơ, sao chép các hồ sơ luân lưu, cho đến công tác cơm nước, liên lạc. Có lần thầy còn đào hang trú ẩn cho hai cha nữa.
* Mẫu gương can đảm.
Giáo Hội Việt Nam lúc ấy đang trong tình trạng bị bách hại khốc liệt, dưới thời vua Tự Đức. Để tiêu diệt hết đạo Gia Tô trong cả nước, nhà vua ban hành chiếu chỉ phân sáp ngày 05.08.1861. theo chiếu chỉ đó, mọi tín hữu Gia Tô già trẻ lớn nhỏ, nam nữ đều bị phân tán vào các làng ngoại giáo. các tín hữu bị khắc chữ trên má, gia đình bị phân chia, vợ một nơi, chồng một nẻo, con cái mỗi đưa một miền. Các thánh đường, nhà chung, tài sản của giáo hữu bị tịch thu, bị chia chác hay phá hủy.
Trong bối cảnh đó, ngày 18.09, Đức cha Hemosilla Liêm vô cùng đau đớn khi phải quyết định giải tán chủng viện Kẻ Mốt. linh mục Khoa, đại diện ngài nói với các chủng sinh: "Anh em khỏi chào Đức cha, kẻo ngài không cầm nổi nước mắt". Riêng thầy Khang nhất quyết xin và được chọn để đi theo Đức cha cho tới cùng. Khi giã từ các bạn, thầy nói nửa đùa nửa thật: "Tôi nhất định theo Đức cha, các quan có bắt ngài, ắt sẽ chẳng tha tôi. Đức cha chết vì đạo, tôi cũng chết theo, mất đầu còn chân sợ gì". Từ đêm đó, hai cha con bắt đầu sống lưu lạc. Tương lai tuy mờ mịt, nhưng thầy Khang vẫn vui tươi nhờ lòng tin tưởng phó thác và tâm tình hiến dâng mạng sống nếu Chúa muốn.
Ba tuần lễ đầu, thầy Khang cùng với Đức cha sống trong hang trú ẩn ở Thọ Ninh. Nhưng quan quân đã phát hiện nơi ẩn đó, nên hai cha con phải bỏ đất liền, xuống một thuyền đánh cá. Thầy Khang chèo thuyền qua thị xã Hải Dương đến tá túc trên thuyền của một giáo hữu tên Bính. Chính nơi đây đã thành "Tòa Giám mục lưu động" của vị chủ chăn. Được vài ngày, hai vị tình cờ gặp Đức cha Valentinô Vinh và linh mục Almatô Bình đi thuyền từ Kẻ Nê xuống. Thật là cuộc gặp gỡ vô cùng cảm động và vui mừng của bốn thánh tử đạo Hải Dương. Các vị tạ ơn Chúa vì cơ may đặc biệt này, trao đổi tin tức và cùng nhau cầu nguyện cho Giáo Hội. Đến sáng, các vị chia tay mỗi thuyền đi một ngả.
Một hôm gia đình Trương Bính xảy ra cuộc cãi lộn. Người con trai tức giận với cha mẹ nên tố cáo ông bà chứa chấp đạo trưởng. Thế là đội Bảng liền đem gia nhân đến bắt Đức cha. Thấy họ tới nơi, thầy Khang liền nhổ cây sào chống thuyền và chạy đến đứng chắn trước mặt họ như muốn ngầm bảo : phải bước qua xác tôi, rồi muốn bắt ai thì bắt. Nhưng vị Giám mục khả kính và nhân ái đã đến nắm lấy vai thầy, ngài nói: "Đừng làm gì hại họ, hãy phó mặc cho ý Chúa". Thầy Khang ngỡ ngàng quay lại nhìn người cha già và chợt hiểu ra ý ngài, thầy chỉ nói được một lời : "Thưa vâng", rồi bỏ sào tre xuống đưa tay cho lính trói. Lính giải hai vị vào thành Hải Dương và giam mỗi vị một nơi.

* Vị tử đạo Hải Dương.
Một tháng rưỡi trong tù, thầy Khang được sống chung với một số giáo hữu. Thầy liền tổ chức cho cả phòng giam đọc kinh chung mỗi ngày ba lần, và mỗi tối làm việc thống hối đền tội để chuẩn bị đón nhận phúc tử đạo. Trong thời gian này, thầy bị đưa ra tòa tra tấn ba lần, bị đánh đòn khắp hai bên mông. Lần nào thầy cũng can đảm chịu đựng, không hề tiết lộ bất cứ chi tiết nào về hàng giáo sĩ, không chịu bỏ đạo như các quan yêu cầu. Sau mỗi trận đòn, các giáo hữu trong ngục đều nấu nước rửa và xoa bóp cho thầy dịu bớt cơn đau. Đặc biệt ở trong tù, thầy Khang vẫn tiếp tục viết thư cho các bạn học đang lưu lạc ở làng Hảo Hội. một lá thư thầy viết : "Các quan mới tra tấn tôi một kỳ để hỏi Đức cha đã ở những đâu, song tôi chẳng trả lời, trái lại vui lòng chịu đòn. Xin anh em cầu nguyện cho tôi".
Trong lá thư khác thầy viết : "Anh em cho tôi một cái quần, vì quần tôi cũ, phải đòn nhiều đã rách nát. Cũng xin gửi cho tôi một cái khăn để khi tôi chết, có cái mà liệm xác đem chôn".
Ngày 06.12.1861, thầy Giuse Khang được nghe bản án trảm quyết ở kinh đô gửi ra, thầy vui vẻ theo lịnh ra pháp trường Năm mẫu, nơi đã thấm máu người cha kính yêu của thầy ngày 01.11 trước đó. sau khi bị chém đầu, dân chúng địa phương an táng thi thể ngay ở ngoài ruộng. Năm 1867, theo lệnh của Đức cha Hy, thầy cai Hinh, anh ruột của vị tử đạo đã dời hài cốt em của mình về nhà nguyện Kẻ Mốt.
Ngày 20.5.1906, Đức Thánh Cha Piô X suy tôn thày Giuse Nguyễn Duy Khang lên bậc Chân Phước. Ngày 19-06-1988, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh.
Lời bất hủ, trong lá thư thầy viết: Thầy Khang nói với bạn bè: "Tôi nhất định theo Ðức cha (Liêm), các quan có bắt ngài , ắt sẽ chẳng tha tôi, Ðức cha chết vì đạo, tôi cũng chết theo, mất đầu còn chân sợ gì". Khi lính đến bắt Ðức cha, thầy Khang toan dùng sào tre để chống cự cứu Ðức cha, ngài bảo: "Ðừng làm gì hại họ, hãy phó mặc cho ý Chúa". Thầy Khang chỉ nói được một lời "Thưa vâng".

Chúa Nhật II Mùa Vọng Năm C

Lời Chúa: Hết mọi người phàm sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa.

     Năm thứ mười lăm dưới triều hoàng đế Ti-bê-ri-ô, thời Phong-xi-ô Phi-la-tô làm tổng trấn miền Giu-đê, Hê-rô-đê làm tiểu vương miền Ga-li-lê, người em là Phi-líp-phê làm tiểu vương miền I-tu-rê và Tra-kho-nít, Ly-xa-ni-a làm tiểu vương miền A-bi-lên, Khan-na và Cai-pha làm thượng tế, có lời Thiên Chúa phán cùng con ông Da-ca-ri-a là ông Gio-an trong hoang địa. Ông liền đi khắp vùng ven sông Gio-đan, rao giảng kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội, như có lời chép trong sách ngôn sứ I-sai-a rằng: Có tiếng người hô trong hoang địa: hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi. Mọi thung lũng, phải lấp cho đầy, mọi núi đồi, phải bạt cho thấp, khúc quanh co, phải uốn cho ngay, đường lồi lõm, phải san cho phẳng. Rồi hết mọi người phàm sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa.

SUY NIỆM & CẦU NGUYỆN
     Qua bài Tin Mừng hôm nay, lời Chúa mang đến cho chúng ta một niềm hy vọng là Chúa sẽ đến để giải thoát cho dân của Người và để đổi mới thế giới trong tương lai. Đồng thời Chúa còn vạch ra cho chúng ta thấy đường lối của Ngài, để chúng ta biết phải chuẩn bị như thế nào cho xứng đáng. Và hơn thế nữa Thiên Chúa đã đến qua Con của Ngài là Đức Kitô. Và Đức Kitô chính là sức mạnh của Thiên Chúa đến để giải thoát thế gian khỏi tội lỗi như lời Gioan Tiền Hô đã minh chứng: “ Đấng đến sau tôi nhưng quyền năng hơn tôi, Ngài sẽ rửa anh em trong Lửa Chúa Thánh Thần. Ngài sẽ là mục tử nhân lành đến tìm kiếm những con chiên lạc”.
      Và mỗi người chúng ta là Thân Thể Mầu Nhiệm của Chúa Ki-tô, Chúa là đầu còn chúng ta là chi thể, mà một chi thể đau thì toàn thân cũng đau. Một chi thể thiếu thốn, đói khát, bệnh tật, đau khổ thì toàn thân cũng bị ảnh hưởng rất lớn. Nếu chúng ta sống trong ganh tỵ, ích kỷ hẹp hòi và hận thù chia rẽ. Thế là, chúng ta vô tình chia năm xẻ bảy Thân Thể Mầu Nhiệm của Chúa Ki-tô, nên Chúa tha thiết đòi buộc chúng ta phải mau tháo gỡ những ngăn cách đó để giao hoà với anh chị em và giao hòa với Thiên Chúa để cho Thân Thể Mầu Nhiệm Chúa Ki-tô được lành lặn.
    Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, trong ăn năn sám hối không phải là điều dễ dàng, bởi lẽ chúng con không đủ khiêm tốn để nhận ra mình lầm lỗi. Xin cho chúng con biết thường xuyên điều chỉnh lối nghĩ và lối sống của mình, tỉnh táo để khỏi rơi vào tội lỗi và phải sống thành thật để khỏi tự lừa dối mình. Ước gì Chúa ban cho chúng con ơn hoán cải, biết ăn năn sám hối thật lòng và chấp nhận những cắt tỉa đớn đau. Nhưng xin đừng quên ban cho chúng con niềm vui của Giakêu, hạnh phúc vì được tự do và được yêu mến.  Amen

Ngày 06/12 – Thánh Nicôla, Giám mục Tiến sĩ (qua đời năm 350?)
Cả Giáo hội Đông phương và Tây phương đều tôn kính ngài. Sau Đức Mẹ, ngài là vị thánh được các họa sĩ Kitô giáo vẽ chân dung nhiều nhất. Theo lịch sử, ngài là giám mục GP Myra, thuộc Lycia, một tỉnh của Tiểu Á.
Có nhiều truyện về ngài đầy màu sắc xuyên suốt nhiều thế kỷ. Truyện nổi tiếng về ngài có thể liên quan đức bác ái đối với người nghèo, những người không thể cho con gái mình của hồi môn khi đến tuổi kết hôn. Không muốn thấy họ bị ép làm gái mại dâm, thánh Nicôla lấy vàng trao cho các bà mẹ để họ cho con gái làm của hồi môn đi lấy chống. Qua nhiều thế kỷ, truyền thuyết này ảnh hưởng tập tục tặng quà nhau vào ngày lễ kính ngài. Tại các nước nói tiếng Anh, ngài được coi là Ông già Noel.

Thứ Sáu, 4 tháng 12, 2015

Thứ Bảy Tuần I Mùa Vọng Mt 9,35-10,1.6-8.

Lời Chúa: Đức Giê-su thấy đám đông thì chạnh lòng thương.
Ha-lê-lui-a. Đức Chúa là vị thẩm phán của chúng ta, là nhà lập pháp của chúng ta và là vua của chúng ta, chính Người sẽ cứu độ chúng ta. Ha-lê-lui-a.
Chúa chúng ta thật là cao cả,
uy lực vô biên, trí tuệ khôn lường !
Kẻ thấp hèn, Chúa nâng đỡ dậy,

bọn gian ác, Người hạ xuống đất đen.

Ngày 05/12 – Thánh Sabas, Ẩn tu (trước năm 439)
Ngài sinh tại Cappadocia (nay là Thổ Nhĩ Kỳ), là một trong các giáo phụ của Palestine và được coi là một trong những vị sáng lập đời sống tu trì Đông phương.
Tuổi thơ ngài không hạnh phúc, ngài bị lạm dụng và phải bỏ trốn vài lần, cuối cùng xin tị nạn trong một tu viện. Gia đình thuyết phục ngài trở về, nhưng ngài nhất quyết đi tu. Tuy còn trẻ nhưng ngài có tiếng nhân đức.
Lúc 18 tuổi, ngài đi Giêrusalem, tìm cách sống cô tịch. Ngài được coi là người hoàn toàn sống ẩn tu. Mới đầu ngài sống trong tu viện, ban ngày làm việc, ban đêm cầu nguyện. Lúc 30 tuổi, mỗi tuần ngài được phép sống 5 ngày trong một hang động hẻo lánh để cầu nguyện và đan rổ rá. Cố vấn của ngài là thánh Euthymiô. Sau khi thánh Euthymiô qua đời, thánh Sabas chuyển tới sa mạc gần Giêricô. Nngài sống vài năm ở đây trong một hang động gần suối Cedron. Ngài ăn cỏ dại mọc trên đá. Thi thoảng có người đem cho ngài ít thực phẩm khác, còn nước uống phải đi khá xa mới có.
Khi đã ngoài 50 tuổi, ĐGM thuyết phục ngài chịu chức linh mục để phục vụ và lãnh đạo tu viện. Khi làm viện phụ của một cộng đoàn lớn, ngài cảm thấy mình có ơn gọi sống ẩn tu. Vào các mùa Chay, ngài đi xa một thời gian. Khi thấy nhà dòng gặp khó khăn, ngài giúp đỡ nhiều.
Ngài đi khắp Palestine, rao giảng đức tin và đem được nhiều người về với giáo hội. Lúc 91 tuổi, theo lời của giáo phụ Giêrusalem, ngài tới Constantinople. Ngài bị bệnh, ngay khi vừa trở về thì ngài qua đời tại tu viện ở Mar Saba. Ngày nay, tu viện này vẫn có các tu sĩ Chính thống giáo Đông phương sống ở đó.

Thứ Năm, 3 tháng 12, 2015

Thứ Sáu Tuần I Mùa Vọng Mt 9,27-31.

Lời Chúa: Nhờ tin vào Đức Giê-su, hai người mù được chữa khỏi.
Ha-lê-lui-a. Kìa Chúa chúng ta ngự đến uy quyền, sẽ chiếu tỏa ánh quang cho tôi tớ Người rạng ngờ đôi mắt. Ha-lê-lui-a.
Tôi vững vàng ton tưởng
sẽ được thấy ân lộc Chúa ban
trong cõi đất dành cho kẻ sống.
Hãy cậy trông vào Chúa,
mạnh bạo lên, can đảm lên nào !

Hãy cậy trông vào Chúa.

Ngày 04/12-(676?-749) Thánh Gioan Đamas Linh mục tiến sĩ Hội Thánh
Thánh Gioan Đamas sinh tại Đamas vào khoảng năm 676. Cha ngài giữ một chức vị quan trọng trong triều đình và chính ngài lúc đầu cũng theo đuổi những vinh quang trần thế trước khi theo tiếng gọi trời cao (710). Ngài bỏ mọi sự, lên đường tìm một cuộc đời trầm lặng trong tu viện thánh Sabas tại sa mạc Giuđa và ngài đã sống ở đó cho đến mãn đời. Là thầy dòng, rồi linh mục, ngài đã chuyên tâm nghiên cứu thần học và giảng thuyết. Những suy tư của ngài đã tạo được một ảnh hưởng lớn tại Tây Phương cũng như Ðông Phương. Nhưng tác phẩm danh tiếng nhất của ngài là ba tập Minh Giáo (726-730) bênh vực việc tôn kính ảnh tượng, chống lại những ngăn cấm của hoàng đế Léon Isaurien và Constantin V. Ngoài ra, chúng ta còn lưu giữ được những bài giảng của ngài về Ðức Mẹ và ngài xứng đáng với danh hiệu "Tiến sĩ thần học về Ðức Maria". Ngài chủ trương: Là Mẹ Thiên Chúa hằng sống, Ðức Maria cũng phải được đưa về trời... Hơn nữa, ngài còn là một thi sĩ, và những sáng tác của ngài thường được dùng trong phụng vụ Ðông Phương. Tư tưởng của ngài là những chất liệu giúp chúng ta suy nghĩ về mầu nhiệm nhập thể, Thiên Chúa yêu thương loài người.

Thứ Ba, 1 tháng 12, 2015

Thứ Năm Thánh Phanxicô Xaviê Linh Mục Lễ kính Mc 16,15-20.

Lời Chúa: Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng.
Ha-lê-lui-a. Chúa nói: Anh em hãy đi giảng dạy cho muôn dân. Này đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế. Ha-lê-lui-a.
Muôn nước hỡi, nào ca ngợi Chúa,
ngàn dân ơi, hãy chúc tụng Người !
Vì tình Chúa ta thật mãnh liệt,

lòng thành tín của Người bền vững muôn năm.

Ngày 03/12 – Thánh Phanxicô Xaviê, Linh mục, Bổn mạng các xứ truyền giáo (1506-1552)
Phanxicô sinh năm 1506 tại Javier (Navarra), thuộc giáo phận Pampelune, miền Bắc nước Tây ban Nha trong một gia đình quyền quí. Năm 19 tuổi, Ngài sang Paris để tiếp tục việc học. Tám năm sau, Ngài tốt nghiệp và trở thành giáo sư đại học tại đó. Ðược nổi tiếng nhờ trí thông minh, Phanxicô ngày đêm miệt mài theo đuổi danh vọng thế tục.
Nhưng một ngày kia, Chúa đã dùng miệng lưỡi Thánh Ignatius thành Loyola, cũng là thầy dạy, để nói cùng Ngài: "Ðược lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn nào được ích chi?". Và Chúa đã hoàn toàn chiếm đoạt trái tim Thánh nhân, biến Ngài trở thành một khí cụ tuyệt vời cho cánh đồng truyền giáo.
Năm 1539, Phanxicô hăng hái lãnh sứ mạng nơi Ðức Giáo Hoàng Phaolô III là đem ánh sáng Phúc Âm đến cho dân tộc Ấn Ðộ. Mười một năm trường nhiệt thành với nhiệm vụ loan báo Tin Mừng, đời sống Thánh nhân là một cuộc hành trình không ngừng. Bước chân Ngài len lỏi qua khắp các thành thị cũng như thôn quê để rao giảng Phúc Âm Chúa Giêsu. Tiếng Ngài vang vọng từ Ấn Ðộ, Tích Lan, Indonésia, Malacca, đảo Moluques đến Nhật Bản.... Riêng tại Ấn Ðộ, Ngài đã đem về cho Chúa hàng trăm ngàn linh hồn và rửa tội cho nhiều vị Quân vương. Dù vậy, Ngài luôn ấp ủ một tâm hồn khiêm nhường hiếm có. Ngài thường quì gối để viết thư cho Thánh Ignatiô là bề trên của mình. Chúa đã hổ trợ lòng nhiệt thành của Thánh nhân bằng nhiều phép lạ phi thường.
Khi đang trên đường đến gần Trung Hoa thì Ngài ngã bệnh và từ trần ngày 02 tháng 12 năm 1552 tại đảo Tân Châu (Sancian) ngoài khơi Hongkong bây giờ, mình nằm dựa vào một thân cây, mắt nhìn về nước Trung Hoa vĩ đại, bên cạnh một người bạn duy nhất, không được chịu các phép cuối cùng. Xác Thánh của Ngài được Chúa gìn giữ nguyên vẹn và tốt đẹp, mắt bên phải mở ra và linh động như còn sống, da còn tốt nguyên. Theo lệnh bề trên Tổng quyền của Dòng Tên, cánh tay phải của Ngài được lấy ra khỏi thánh thể, đưa về nhà dòng Mẹ tại Rome, đặt bên cạnh di tích của Thánh Ignatiô, vị sáng lập Dòng. Năm 1949, cánh tay của Ngài được cung nghinh qua Nhật Bản nhân dịp kỷ niệm 400 năm từ ngày Thánh nhân đến Nhật.
Xác Ngài được lưu giữ và tôn kính tại Vương cung Thánh đường Chúa Giêsu Thành Goa bên Ấn Ðộ. Từ tháng 1/1974 đến 1/1975, xác Thánh được trưng bày và tôn kính trong những cuộc lễ long trọng, 500 ngàn người đã dự cuộc kiệu ngày bế mạc. Báo Newsweek số ra ngày 30-4-1974 có viết về sự kiện: "Xác Thánh được gìn giữ thật nguyên vẹn một thật cách lạ lùng, như người nằm ngủ."

Thứ Tư Tuần I Mùa Vọng Lc 10,21-24.

Lời Chúa: Đức Giê-su chữa khỏi nhiều người và hóa bánh ra nhiều.
Ha-lê-lui-a. Kìa Chúa đến cứu độ dân Người; phúc thay ai sẵn sàng nghênh đón Chúa. Ha-lê-lui-a.
Lòng nhân hậu và tình thương Chúa
ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời,
và tôi được ở đền Người

những ngày tháng, những năm dài triền miên.

Ngày 02/12 – Chân phước Rafal Chylinski (1694-1741)
Ngài sinh gần Buk, thuộc vùng Poznan tại Ba Lan, tên thật là Melchior. Ngài tỏ ra đạo đức rất sớm, nên gia đình gọi ngài là “tu sĩ nhỏ”. Sau khi học xong tại ĐH Dòng Chúa Cứu Thế ở Poznan, ngài gia nhập kỵ binh và và được thăng cấp sĩ quan trong vòng 3 năm.
Năm 1715, ngài vào Dòng Phanxicô ở Kraków, lấy tên dòng là Rafal, và 2 năm sau được thụ phong linh mục. Sau khi làm mục vụ ở 9 thành phố, ngài tới Lagiewniki (miền Trung Ba Lan), và ở đây 13 năm. Ở đâu ngài cũng nổi tiếng là giản dị, giảng hay, đại lượng. Mọi người noi gương hy sinh của ngài. Ngài chơi đàn harp, đàn lute và mandolin để hòa theo các bài thánh ca phụng vụ. Tại Lagiewniki, ngài phân phát lương thực và quần áo cho người nghèo.
Sau khi qua đời, mộ ngài được nhiều khách hành hương kính viếng ở Ba Lan. Ngài được phong chân phước tại Warsaw năm 1991.

Thứ Ba Tuần I Mùa Vọng Lc 10,21-24.

Lời Chúa: Được Thánh Thần tác động, Đức Giê-su hớn hở vui mừng.
Ha-lê-lui-a. Kìa Chúa chúng ta ngự đến uy quyền, sẽ chiếu tỏa ánh quang cho tôi tớ Người rạng ngờ đôi mắt. Ha-lê-lui-a.
Danh thơm Người sẽ trường tồn vạn kỷ,
nức tiếng gần xa dưới anh mặt trời.
Ước gì mọi sắc tộc trần gian, nhờ Người được chúc lành,

và muôn dân thiên hạ ngợi khen Người có phúc.

Ngày 01/12 – Chân phước Gioan Vercelli (khoảng năm 1205-1283)
Ngài sinh gần Vercelli, Tây Bắc Ý. Không biết rõ về cuộc đời ngài lúc đầu. Ngài vào Dòng Đa Minh hồi thập niên 1240 và giữ các chức vụ lãnh đạo trong niều năm. Ngài được bầu làm tổng đại diện Dòng Đa Minh năm 1264, ngài phục vụ gần 20 năm. Ngà nổi tiếng có nghị lực và giản dị, thường đi bộ tới thăm các cơ sở Dòng Đa Minh, thúc giục các tu sĩ sống vâng lời và giữ hiến pháp Dòng.
Ngài được 2 vị giáo hoàng trao trọng trách đặc biệt. ĐGH Grêgôriô X giúp ngài và các tu sĩ Dòng Đa Minh để giúp ổn định nước Ý đang gặp rắc rối với nước khác. Ngài được mời phác thảo chương trình Công đồng Lyon II năm 1274. Tại công đồng này ngài đã gặp Giêrônimô Ascoli (sau là ĐGH Nicôla IV), lúc đó là tổng đại diện Dòng Phanxicô. Thời gian sau, hai vị này được Rôma phái đi điều đình vấn đề liên quan vua Philip III của Pháp. Một lần nữa, chân phước Gioan Vercelli có thể biểu hiện tài thương thuyết và kiến tạo hòa bình.
Sau Công đồng Lyon II, ĐGH Grêgôriô X giao cho ngài nhiệm vụ rao truyền lòng sùng kính Thánh danh Chúa Giêsu. Ngài yêu cầu mỗi nhà nguyện của Dòng Đa Minh đều có bàn thờ tôn sùng Thánh danh Chúa Giêsu, và thành lập những nhóm chống lại việc báng bổ và coi thường. Tới cuối đời, ngài được giao trách nhiệm làm giáo phụ Giêrusalem, nhưng ngài từ chối. Ngài vẫn là tổng đại diện Dòng Đa Minh cho đến khi qua đời.